- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Mỹ Y yêu cầu ly hôn Lê K"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ Y.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC B-KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24/7/2025 Về việc “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC B- KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Công
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trương Thị Diễm
Ông Huỳnh Dư
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực B- Khánh Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực B- Khánh Hòa: Ông Bùi Văn Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực B- Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 54/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mỹ Y, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1994. Nơi cư trú: Khối phố C, xã N, Thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Lê K, sinh ngày 12 tháng 01 năm 1982. Nơi cư trú: Tổ dân NC, phường BCR, tỉnh Khánh Hòa. Nơi công tác: Nhà máy X52, Cục Hậu cần - Kỹ thuật QCHQ, phường BCR, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 20/02/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ Y trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lê K tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau từ năm 2016 và được Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện X, tỉnh Quảng Nam cấp giấy chứng nhận kết hôn số 138 ngày 09/9/2016.
Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, từ đầu năm 2024 đến nay vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sống không hạnh phúc, thường xuyên cãi nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê K.
- Về con chung: Bà và ông Lê K có 01 con chung là Lê Phương U, sinh ngày 09 tháng 7 năm 2017. Bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà và ông K tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai ngày 16/4/2025 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê K trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Về quá trình tìm hiểu và kết hôn đúng như bà Y đã trình bày trên. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có xảy ra một số mâu thuẫn, có lần ông đã đánh vợ do quá bực tức, trong người cũng có hơi men nên ông đã không kiểm soát được hành vi của mình mà đánh vợ, sau đó ông xin lỗi và hứa sẽ không tái phạm nữa, mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức phải ly hôn. Ông muốn giữ gìn hạnh phúc gia đình, muốn vợ chồng cùng nhau chăm sóc con cái được tốt hơn nên bà Y yêu cầu ly hôn với ông thì ông không đồng ý.
- Về con chung: Ông và bà Y có 01 con chung đúng như bà Y đã trình bày trên. Trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ chồng ông ly hôn thì ông đồng ý cho bà Y là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Thùy; ông không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Ông và bà Y tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2-Khánh Hòa:
- Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng: Thẩm phán và Thư ký chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1.1.] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về “Ly hôn” mà bị đơn có nơi cư trú tại Phường BCR, tỉnh Khánh Hòa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực B- Khánh Hòa.
[1.2.] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Mỹ Y và ông Lê K tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau và được Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện X, tỉnh Quảng Nam ( nay là xã N, Thành phố Đà Nẵng) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 138 ngày 09/9/2016 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Qua lời khai của nguyên đơn, bị đơn có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn không hạnh phúc, có nhiều mâu thuẫn, nguyên đơn không còn tình cảm với bị đơn nên yêu cầu ly hôn với bị đơn. Như vậy, mục đích hôn nhân của nguyên đơn và bị đơn không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho ly hôn với bị đơn.
Về con chung: Bà Trần Thị Mỹ Y và ông Lê K có 01 con chung là Lê Phương U, sinh ngày 09 tháng 7 năm 2017. Bà Y yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Ông K đồng ý.
Xét: Việc giao con cho ai nuôi dưỡng, giáo dục sau khi bố mẹ ly hôn là nhằm phát triển tốt cho con cả về mặt thể chất lẫn tinh thần. Cháu U là nữ, có nguyện vọng được sống với mẹ và từ nhỏ cháu sống cùng với mẹ. Do đó, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chung chưa thành niên, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình, cần giao con chung cho cho bà Y nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Y về việc không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Trần Thị Mỹ Y và ông Lê K tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Bà Y phải nộp án phí Dân sự sơ thẩm 300.000 đồng về “Ly hôn”.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ Y.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Mỹ Y được ly hôn ông Lê K.
2. Về con chung: Giao con chung Lê Phương Thùy, sinh ngày 09 tháng 7 năm 2017 cho bà Trần Thị Mỹ Y được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau khi ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Mỹ Y về việc không yêu cầu ông Lê K cấp dưỡng nuôi con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp chăm sóc nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung.
3. Về tài sản chung: Bà Trần Thị Mỹ Y và ông Lê K tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
4. Về án phí: Bà Trần Thị Mỹ Y phải nộp án phí Dân sự sơ thẩm 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng về “Ly hôn” nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005246 ngày 20/3/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Cam Ranh (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2- Khánh Hòa). Do đó, bà Trần Thị Mỹ Y đã nộp đủ án phí Dân sư sơ thẩm.
5. Bà Trần Thị Mỹ Y, ông Lê K có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA