- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Ban an H-D"
- Tòa quyết gì? Căn cứ vào khoản 1 Điều 89; Điều 101; khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST Ngày: 03-01-2025 V/v: Tranh chấp về xác định cha cho con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Thoảng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Bích Huề
2. Ông Trần Hoài Sơn
- Thư ký phiên toà: Bà Nghiêm Thị Vân Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Lộc Hồng Điệp – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 235/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2024 về việc: Tranh chấp về xác định cha cho con. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 51/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1983 Địa chỉ: Thôn P, xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1983. Địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện V, tỉnh Yên Bái (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Anh Q, sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện V, tỉnh Yên Bái (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn anh Nguyễn Xuân H trình bầy: Tôi và chị Nguyễn Thị D quen nhau từ tháng 2 năm 2022 trong thời gian tôi và chị D ở cùng nhau có phát sinh quan hệ tình dục và đã có con riêng là con gái do chị D sinh ra vào ngày 03/8/2024 tại Bệnh viện Sản nhi tỉnh Y (dự định đặt tên con trong giấy khai sinh là Nguyễn Diệu M sinh ngày 03/8/2024). Tôi đã làm thủ tục xét nghiệm ADN với con gái của chị Nguyễn Thị D tại Viện công nghệ A và phân tích di truyền GENLAB và có kết quả số: 241868GL/AND ngày 17/8/2024 kết luận anh Nguyễn Xuân H có huyết thống bố con với cháu gái dự định đặt tên là Nguyễn Diệu M sinh ngày 03/8/2024. Nay tôi đề nghị Toà án nhân dân huyện Văn Yên xác nhận cho tôi là cha với con gái do chị Nguyễn Thị D sinh ra dự định đặt tên là Nguyễn Diệu M sinh ngày 03/8/2024. Ngoài ra tôi không yêu cầu gì thêm nữa.
Tại biên bản lấy lời khai chị Nguyễn Thị D trình bầy: Tôi và anh Nguyễn Xuân H có quan hệ tình dục và đã có con riêng là cháu Nguyễn Diệu M sinh ngày 03/8/2024. Khi mang thai cháu M thì tôi đang là vợ chồng với anh Lê Anh Q địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện V, tỉnh Yên Bái. Tôi và anh Q ly hôn nhau tại bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST ngày 08/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Cháu Nguyễn Diệu M mang thai trong thời kỳ hôn nhân giữa tôi và anh Q nhưng anh Q không phải là bố đẻ của cháu. Nay anh Nguyễn Xuân H yêu cầu xác nhận cha con với con gái do tôi sinh ra là cháu Nguyễn Diệu M sinh ngày 03/8/2024 tại Bệnh viện sản nhi tỉnh Y. Tôi xác định cháu M chính là con đẻ của anh H và đã thực hiện giám định ADN Viện công nghệ AND và phân tích di truyền GENLAB và có kết quả số: 241868GL/AND ngày 17/8/2024 kết luận anh Nguyễn Xuân H có huyết thống bố con với cháu Nguyễn Diệu M sinh ngày 03/8/2024. Tôi nhất trí với yêu cầu của anh H về xác nhận cha con. Tôi không có ý kiến gì thêm.
Sau khi thụ lý vụ án. Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đã nhiều lần báo gọi và gửi Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Q không có mặt theo các giấy tờ của Tòa án. Hiện nay hộ khẩu của anh Q tại thôn N, xã X, huyện V, tỉnh Yên Bái. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các giấy tờ của Tòa án cho anh Q. Ông Bùi Văn B là trưởng thôn Ngòi Viễn, xã X đã trực tiếp nhận và đã thông báo giao cho anh Q, anh Q biết việc Tòa án báo gọi đến để giải quyết việc anh Nguyễn Xuân H đề nghị Toà án xác định cha cho con đối với cháu gái dự định đặt tên là Nguyễn Diệu M sinh ngày 03/8/2024 do chị Nguyễn Thị D sinh ra. Nhưng anh Q không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án nên Tòa án không thể lấy lời khai và hòa giải theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự được.
Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng dân sự, quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 88; Điều 89; Điều 101; Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Xuân H: Xác định anh Nguyễn Xuân H sinh năm 1983, địa chỉ: Thôn P, xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái là cha đẻ của cháu gái dự định đặt tên là Nguyễn Diệu M sinh ngày 03/8/2024 (do chị Nguyễn Thị D sinh ra) theo giấy chứng sinh: Mã GCS: 01209.GCS.15032.24 Bệnh viện Sản nhi tỉnh Y quyển số 8, cấp ngày 03 tháng 8 năm 2024.
Anh Nguyễn Xuân H và chị Nguyễn Thị D có quyền liên hệ với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hộ tịch để làm thủ tục khai sinh cho con có tên dự kiến Nguyễn Diệu M sinh ngày 03/8/2024 theo quy định pháp luật.
Về án phí: Anh Nguyễn Xuân H được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp về xác định cha cho con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của Tòa án là đúng thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn; bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã triệu tập người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tư cách người tham gia tố tụng: Tòa án đã xác định đúng tư cách của người tham gia tố tụng gồm nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Về yêu cầu xác định cha cho con: Các đương sự đều xác định chị Nguyễn Thị D và anh Lê Anh Q là vợ chồng, quá trình chung sống anh chị đã có mâu thuẫn và đã sống ly thân nhau từ tháng 5/2023. Trong thời gian chị D và anh Q sống ly thân chưa ly hôn thì chị D và anh H đã quen biết và có quan hệ tình dục với nhau và chị D đã mang thai, đến ngày 03/8/2024 chị Nguyễn Thị D sinh con gái tại Bệnh viện sản nhi tỉnh Y theo theo giấy chứng sinh: Mã GCS: 01209.GCS.15032.24 Bệnh viện Sản nhi tỉnh Y quyển số 8, cấp ngày 03 tháng 8 năm 2024 dự định đặt tên con là Nguyễn Diệu M sinh ngày 03/8/2024.
Chị Nguyễn Thị D và anh Lê Anh Q ly hôn tại Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST ngày 08/5/2024 của Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Khi ly hôn về con chung của chị D với anh Q thì các cháu đã trưởng thành khi ly hôn không yêu cầu Toà án giải quyết. Đối với cháu gái chị Nguyễn Thị D sinh ra vào ngày 03/8/2024 dự kiến đặt tên là Nguyễn Diệu M. Anh Nguyễn Xuân H đã đi giám định ADN giữa anh H và cháu gái chị D sinh ra. Viện công nghệ A và phân tích di truyền GENLAB và có kết quả số: 241868GL/AND ngày 17/8/2024 kết luận anh Nguyễn Xuân H có huyết thống bố con với người có tên dự định đặt là Nguyễn Diệu M sinh ngày 03/8/2024 độ tin cậy >99,9999%. Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử thấy rằng việc anh Nguyễn Xuân H đề nghị Toà án xác định cha cho con của anh đối với cháu gái do chị Nguyễn Thị D sinh ra dự định đặt tên là Nguyễn Diệu M sinh ngày 03/8/2024 là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 89; Điều 102 Luật hôn nhân gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Anh Nguyễn Xuân H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần đề nghị tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 89; Điều 101; khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Xuân H: Xác định anh Nguyễn Xuân H sinh năm 1983, địa chỉ: Thôn P, xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái là cha đẻ của cháu gái dự định đặt tên là Nguyễn Diệu M sinh ngày 03/8/2024 (do chị Nguyễn Thị D sinh ra) theo theo giấy chứng sinh: Mã GCS: 01209.GCS.15032.24 Bệnh viện Sản nhi tỉnh Y quyển số 8, cấp ngày 03 tháng 8 năm 2024.
2. Anh Nguyễn Xuân H và chị Nguyễn Thị D có quyền liên hệ với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hộ tịch để làm thủ tục khai sinh cho con có tên dự kiến Nguyễn Diệu M sinh ngày 03/8/2024 theo quy định pháp luật.
3. Về án phí: Anh Nguyễn Xuân H không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà anh H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái theo biên lai thu số: AA/2023/0001132 ngày 30 tháng 10 năm 2024.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND huyện Văn Yên; - Chi cục THADS huyện Văn Yên; - Các đương sự (2) - Lưu HS -TQĐ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Chu Thị Thoảng |