vanban.org

Bản án 04/2025/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và bị đơn bà Đặng Thị Ngọc H.

Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín. 1. Buộc bà Đặng Thị Ngọc H phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín tổng số tiền nợ tính đến ngày 14/7/2025 bà Đặng Thị Ngọc H còn nợ số tiền là: 82.759.024 đồng. Trong… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và bị đơn bà Đặng Thị Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NH DÂN KHU VỰC 6
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/DS-ST
Ngày: 14/7/2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NH DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH DÂN KHU VỰC 6 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Phương

Các Hội thẩm nH dân:

1. Ông Nguyễn Như Thủy;

2. Bà Trương Thị Đạt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thuý Loan – là Thư ký Tòa án nH dân khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nH dân khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2025 tại Tòa án nH dân Khu vực 6 – Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 99/2025/DSST ngày 21 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 196/2025/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 202/2025/QĐST-DS ngày 23 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín; Địa chỉ mới: Số 266 – 268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Xuân Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh (Địa chỉ cũ: Số 266 – 268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh).

Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh Nhung.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông TH Lê Nguyên, sinh năm 1978; địa chỉ mới: Số 50/12 Đường B khu Adc, phường Phú Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh (địa chỉ cũ: Số 50/12 Đường B khu Adc, phường Phú Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh). (Vắng mặt)

2. Bị đơn: Bà Đặng Thị Ngọc H, sinh năm: 1981; Địa chỉ mới: Số 92 đường Hưng Thái, Phú Mỹ Hưng, phường Tân Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh (Địa chỉ cũ: Số 92 đường H, P, phường Tân Phong, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh). (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các Bản tự khai, Biên bản hòa giải tại Tòa án, nguyên đơn có ông TH Lê Nguyên là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 09/09/2009, bà H có ký với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng– các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng Thẻ Visa OS Member (số thẻ 462881 - 7187) với hạn mức sử dụng là 200.000.000 đồng. Sau một thời gian sử dụng, đến ngày 03/08/2011 bà H có đăng ký thêm thẻ Thẻ Visa Platinum (số thẻ 436438 - 8128) với hạn mức sử dụng chung là 200.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nH.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 1.058.047.959 đồng (trong đó thẻ Thẻ Visa OS Member (số thẻ 462881 - 7187) là 611.313.410 đồng, thẻ Thẻ Visa Platinum (số thẻ 436438 - 8128) là 446.734.549 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay Bà H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 1.385.380.353 đồng. (trong đó thẻ Thẻ Visa OS Member (số thẻ 462881 - 7187) là 675.050.039 đồng, thẻ Thẻ Visa Platinum (số thẻ 436438 - 8128) là 710.330.314 đồng). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:

+ Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước

+ Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước

+ Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước

+ Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ

+ Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ

+ Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 26/12/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Tính đến ngày 14/07/2025, bà H còn nợ tổng số tiền 82.759.024 đồng cụ thể như sau:

ĐVT: Đồng Loại thẻ

Số thẻ

Nợ gốc

Lãi quá hạn

Dư nợ

Lãi suất Thẻ Visa OS

3.6%

462881 - 7187 2.554.287

4.307.337

6.861.624 Member

(2.4%*150%) Thẻ Visa

3.9%

436438 - 8128 29.689.181

46.208.219

75.897.400 Platinum

(2.6%*150%) Tổng

32.243.468

50.515.556

82.759.024

Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bà H có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên Bà H vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, yêu cầu giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Buộc bà Đặng Thị Ngọc H phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 14/07/2025 là 82.759.024 đồng (Bằng chữ: Tám mươi hai triệu, bảy trăm năm mươi chín nghìn, không trăm hai mươi bốn đồng) trong đó:

- Nợ gốc

: 32.243.468 đồng

- Lãi quá hạn: 50.515.556 đồng

Và bà Đặng Thị Ngọc H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 15/07/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Về phía bị đơn bà Đặng Thị Ngọc H, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nH dân khu vực 6 đã nhiều lần triệu tập bà Đặng Thị Ngọc H đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ kiện theo đúng quy định pháp luật nhưng bà Đặng Thị Ngọc H không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì, vắng mặt không có lý do, không có văn bản, ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa.

Ý kiến của Viện kiểm sát nH dân khu vực 6:

- Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự.

Nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hợp đồng tín dụng đã ký thì thỏa thuận giữa nguyên đơn và bị đơn là tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín có ông TH Lê Nguyên là người đại diện theo ủy quyền có đơn xin xét xử vắng mặt.

Tại đơn khởi kiện nguyên đơn cung cấp địa chỉ cư trú hiện tại của bị đơn là: 92 đường Hưng Thái, Phú Mỹ Hưng, phường Tân Phong, Quận 7. Theo địa chỉ được bà Đặng Thị Ngọc H ghi trong giao dịch Giấy đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng và các văn bản khác với nguyên đơn đều thể hiện Bà Đặng Thị Ngọc H tạm trú tại địa chỉ: Số 92 đường Hưng Thái, Phú Mỹ Hưng, phường Tân Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo kết quả trả lời xác minh của Công an phường Tân Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh tại Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 156/2025/QĐ-CCTLCC ngày 19/3/2025 của Tòa án nH dân Quận 7 “Đương sự Đặng Thị Ngọc H sinh năm: 1981 không đăng ký thường trú, tạm trú tại địa phương và không thực tế cư ngụ tại địa chỉ 92 Hưng Thái 1, KP3, phường Tân Phong, Quận 7” và Theo kết quả trả lời xác minh của Công an Phường 11, Quận 11 tại Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 158/2025/QĐ-CCTLCC ngày 20/3/2025 của Tòa án nH dân Quận 7 “Bà Đặng Thị Ngọc H, sinh năm: 1981 có HKTT tại 68 đường Tổng Lung, phường 11, Quận 11, không thực tế cư trú tại địa chỉ trên. Bà H khai báo nơi ở hiện tại nhà số 96 đường Hưng Thái, phường Tân Phong, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh”.

Theo kết quả trả lời xác minh của Công an phường Tân Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh tại Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 23/2025/QĐ-CCTLCC ngày 09/7/2025 của Tòa án nH dân Khu vực 6 “Tại khu phố 10 – phường Tân Hưng – Thành phố Hồ Chí Minh không có địa chỉ 96 Hưng Thái – Phú Mỹ Hưng. Đương sự Đặng Thị Ngọc H sinh năm: 1981 không thực tế cư ngụ tại địa phương.”

Căn cứ vào Điều 10 Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng thì việc thay đổi thông tin chủ thẻ phải thông báo ngay cho đơn vị phát hành thẻ.

Bà Đặng Thị Ngọc H vắng mặt tại địa phương nhưng không thông báo cho nguyên đơn biết về nơi cư trú mới theo quy định tại Khoản 3 Điều 40, Điểm b Khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ Điểm e Khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.

[1.3] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đã vay. Đây là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” là loại tranh chấp được quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nH dân khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh theo Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Đối với bị đơn bà Đặng Thị Ngọc H là trường hợp đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh: Tại Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn không có ý kiến phản hồi và không phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì, vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản hồi. Căn cứ Khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì bà Đặng Thị Ngọc H đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa tham gia tố tụng, phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vụ việc trên theo những chứng cứ có trong hồ sơ.

Về yêu cầu khởi kiện của đương sự:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 14/7/2025 là 82.759.024 đồng. Trong đó: Nợ gốc là: 32.243.468 đồng; Lãi quá hạn là: 50.515.556 đồng; Yêu cầu trả ngay một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra kể từ ngày 15/7/2025 trở đi, bị đơn còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng đã ký cho đến khi thanh toán hết nợ. Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ký ngày 09/09/2009 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín và bà Đặng Thị Ngọc H, bảng sao kê tài khoản, Thẻ Visa OS Member (số thẻ 462881 - 7187) với hạn mức sử dụng là 200.000.000 đồng và Thẻ Visa Platinum (số thẻ 436438 - 8128) với hạn mức sử dụng chung là 200.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nH. Ngày 26/12/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 14/7/2025 bà Đặng Thị Ngọc H còn nợ số tiền là: 82.759.024 đồng. Trong đó: Nợ gốc là: 32.243.468 đồng; Lãi quá hạn là: 50.515.556 đồng.

Căn cứ theo các điều khoản ký kết trong Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ký ngày 09/09/2009 thì bà Đặng Thị Ngọc H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Căn cứ Khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay thì “bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Đến nay bị đơn bà Đặng Thị Ngọc H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ tính đến ngày 14/7/2025 bà Đặng Thị Ngọc H còn nợ số tiền là: 82.759.024 đồng. Trong đó: Nợ gốc là: 32.243.468 đồng; Lãi quá hạn là: 50.515.556 đồng là phù hợp với các điều khoản trong hợp đồng đã ký kết, phù hợp Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng đính kèm theo hợp đồng và phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91, Khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng nên có cơ sở và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm bị đơn vẫn phải trả lãi theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ký ngày 09/09/2009 cho đến khi trả hết nợ.

Về thời hạn trả nợ: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền còn nợ một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên với yêu cầu này của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên phía bị đơn phải chịu tiền án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là 4.137.951 đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã đóng theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 91; Điều 92; Điều 147; Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Khoản 2 Điều 91 và Khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Luật phí, lệ phí và Khoản 1 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung 2014;

Xử:

1. Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và bị đơn bà Đặng Thị Ngọc H.

2. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.

2.1. Buộc bà Đặng Thị Ngọc H phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín tổng số tiền nợ tính đến ngày 14/7/2025 bà Đặng Thị Ngọc H còn nợ số tiền là: 82.759.024 đồng. Trong đó: Nợ gốc là: 32.243.468 đồng; Lãi quá hạn là: 50.515.556 đồng, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực thi hành.

2.2 Kể từ ngày 15/7/2025 trở đi, bà Đặng Thị Ngọc H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ký ngày 09/9/2009 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cho đến khi thi hành án xong.

2.3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Đặng Thị Ngọc H phải chịu 4.137.951 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nộp tại Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín số tiền tạm ứng án phí đã đóng là 1.590.889 ( Một triệu năm trăm chín mươi nghìn tám trăm tám mươi chín) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0037343 ngày 21/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh - Phòng thi hành án dân sự Khu vực 6).

3. Quyền yêu cầu thi hành án, thời hiệu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án:

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 1, Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín và bị đơn bà Đặng Thị Ngọc H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ