vanban.org

Bản án 04/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường

vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2025/DS-ST

Ngày: 04/07/2025

V/v tranh chấp “Hợp đồng vay

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Dương. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Thanh Nhàn; 2. Ông Trương Phước Công. Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Phương Vy, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11- An Giang. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên – Kiếm sát viên. Ngày 04 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 196/2025/TLST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 330/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 311/2025/QĐST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Ông Lại VB, sinh năm 1969, nơi cứ trú: số 215, ấp KQ1, xã KT, huyện CM (nay là ấp KQ1, xã CM), tỉnh An Giang (có mặt). 2. Bị đơn: Bà Hồ Thị KD, sinh năm 1981; nơi cư trú: số 215, ấp KQ1, xã KT, huyện CM (nay là ấp KQ1, xã CM), tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lại VB trình bày: Do chỗ quen biết nên ông cho bà Hồ Thị KD vay tiền nhiều lần cụ thể như sau: Lần 1: Ngày 14/5/2017 âl (nhằm ngày 08/6/2017dl), ông cho bà Duyên vay 20.000.000 đồng, có làm biên nhận nợ lãi suất thỏa thuận 5%/tháng. Sau khi vay

bà Duyên có đóng lãi cho ông được 12 tháng với số tiền 12.000.000 thì ngưng không đóng lãi cũng như trả vốn cho đến nay. + Lần 2: Ngày 22/11/2017 al (nhằm ngày 08/01/2018), ông cho bà Duyên vay 25.000.000 đồng, có làm biên nhận, lãi suất thỏa thuận 5%/tháng. Sau khi vay bà Duyên có đóng lãi cho ông được 6 tháng số tiền lãi 7.500.000 đồng và trả được 5.000.000 đồng tiền vốn thì ngưng không đóng lãi cũng như trả vốn cho đến nay. Ông có đòi nhiều nhưng bà Duyên chỉ hứa mà không trả. Tộng cộng bà Hồ Thị KD còn nợ ông số tiền 40.000.000 đồng, ông có đòi nhiều nhưng bà Duyên hứa mà không trả. Nay ông yêu cầu bà Hồ Thị KD trả cho ông số tiền vay còn thiếu là 40.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày vay cho đến ngày xét xử, đồng ý khấu trừ số tiền lãi đã nhận. Tại phiên tòa ông Lại VB vẫn giữ nguyên yêu cầu khời kiện. Bị đơn bà Hồ Thị KD đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông vắng mặt không rõ lý do. Nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của ông về nội dung đơn khởi kiện của ông Lại VB. Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 195, 196, 197, 198 và Điều 203 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. * Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa. Đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa. * Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: - Đối với nguyên đơn: Ông Lại VB từ khi thụ lý vụ án, đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 và 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. - Đối với bị đơn: Bà Hồ Thị KD từ khi thụ lý vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt theo Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về tính lãi suất, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ theo Điều 468 Bộ Luật dân sự để giải quyết. * Về hướng giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự đề xuất: - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lại VB. - Buộc bà Hồ Thị KD trả cho ông Lại VB số tiền vốn gốc 40.000.000 đồng và lãi suất 20%/năm theo khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 kể từ tháng 01 năm 2018 cho đến khi bà Duyên trả hết tiền gốc. Đồng thời khấu số tiền 19.500.000 đồng tiền lãi vào vốn gốc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1]. Về thủ tục tố tụng: [1.1]. Ông Lại VB khởi kiện bà Hồ Thị KD về tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Bà Duyên có nơi cư trú tại ấp Kiến Quới 1, xã Kiến Thành, huyện Chợ Mới (nay là ấp Kiến Quới 1, xã Chợ Mới), tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân khu vực 11 – An Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 26, 35 luật sửa đổi sửa đổi bổ sung và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. [1.2]. Bị đơn bà Hồ Thị KD đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng ông vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án. [2]. Về nội dung: Ngày 14/5/2017 âl (nhằm ngày 08/6/2017dl) và ngày 22/11/2017 al (nhằm ngày 08/01/2018), ông Lại VB 02 lần cho bà Hồ Thị KD vay số tiền 45.000.000 đồng có làm biên nhận được các bên ký xác nhận, lãi suất thỏa thuận 5%/tháng, sau khi vay bà Duyên có đóng lãi cho ông Bình được 19.500.000 tiền lãi và 5.000.000 đồng tiền vốn thì không trả nữa. Ông Bình đã nhiều lần yêu cầu trả lại số tiền nhưng bà Duyên hứa mà không thực hiện. Nay ông yêu cầu bà Duyên trả lại số tiền 40.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày vay 08/6/2017 dl đối với số tiền vay 20.000.000 đồng và từ ngày 08/01/2018 đối với số tiền 25.000.000 đồng cho đến ngày xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng trên được xác lập trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không bị lừa dối hay ép buộc nên đây là hợp đồng hợp pháp. Do bà Hồ Thị KD đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như đã thỏa thuận nên bà phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ cho ông Bình. Mặc khác, quá trình giải quyết vụ án bà Duyên đã được Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc khởi kiện của ông Bình và triệu tập đến tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà không có ý kiến gì về việc ông Bình khởi kiện và vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lại VB buộc bà Hồ Thị KD có nghĩa vụ trả cho ông Lại VB số tiền 40.000.000 đồng là phù hợp theo quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Do ông Lại VB không yêu cầu chồng bà Duyên cùng liên đới trả nợ nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết. [3]. Ngoài yêu cầu trả vốn, ông Bình còn yêu cầu tính lãi suất theo quy định của pháp luật từ ngày vay 08/6/2017 dl đối với số tiền vay 20.000.000 đồng và từ ngày 08/01/2018 dl đối với số tiền 25.000.000 đồng cho đến ngày xét xử đồng thời ông yêu cầu khấu trừ tiền lãi mà bà Duyên đã đóng. Xét thấy, do bà Duyên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Bình, nên ông Bình yêu cầu tính lãi suất và khấu trừ tiền lãi đã nhận là có căn cứ phù hợp với Điều 357, 468 Bộ luật dân sự. Tuy nhiên, lãi suất hai bên thỏa thuận là 5%/ tháng cao hơn so với quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu

cầu tính lãi suất của của từ ngày vay theo mức lãi suất quy định tại khoản 1 điều 468 Bộ luật Dân sự. * Số tiền lãi được tính như sau: + Từ ngày 08/6/2017 đến ngày 08/6/2018 là 365 ngày; số tiền lãi được tính: 20.000.000 đồng x 0,056%/ngày x 365 ngày = 4.055.000 đồng. Bà Duyên đã trả lãi cho ông Bình được 12.000.000 đồng. Vậy số tiền lãí bà Duyên trả thừa là 7.945.000 đồng, số tiền này được khấu trừ vào tiền vốn. Vậy số tiền vốn còn lại 12.055.000 đồng (20.000.000đ – 7.945.000 đồng). * Số tiền lãi tiếp theo được tính như sau: + Từ ngày 09/6/2018 đến ngày 04/7/2025 là 2.582 ngày; số tiền lãi được tính: 12.055.000 đồng x 0,056%/ngày x 2.582 ngày = 17.292.000 đồng. + Từ ngày 08/01/2018 đến ngày 08/7/2018 là 181 ngày; số tiền lãi được tính: 25.000.000 đồng x 0,056%/ngày x 181 ngày = 2.513.000 đồng. Bà Duyên đã trả lãi cho ông Bình được 7.500.000 đồng. Vậy số tiền lãi bà Duyên trả thừa là 4.987.000 đồng, số tiền lãi này được khấu trừ vào số tiền vốn. Vậy số tiền vốn còn lại 20.013.000 đồng (25.000.000đ – 4.987.000 đồng), ngoài ra bà Duyên đã trả cho ông Bình được tiền vốn 5.000.000 đồng. Vậy số tiền vốn còn lại 15.013.000 đồng (20.013.000 đồng – 5.000.000 đồng) * Số tiền lãi tiếp theo được tính như sau: + Từ ngày 09/7/2018 đến ngày 04/7/2025 là 2.552 ngày; số tiền lãi được tính: 15.013.000 đồng x 0,056%/ngày x 2.552 ngày = 21.285.000 đồng. [4]. Từ những nhận định trên có căn cứ buộc bà Hồ Thị KD có nghĩa vụ trả cho ông Lại VB số tiền vốn 27.068.000 đồng và tiền lãi 38.577.000 đồng. [5]. Về án phí: Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; - Các Điều 26, 35, 39, 144, 147, 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; - Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lại VB:

Buộc bà Hồ Thị KD có nghĩa vụ trả cho ông Lại VB số tiền vốn 27.068.000 đồng và lãi 38.577.000 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 65.645.000 (sáu mươi lăm triệu, sáu trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. + Về án phí dân sự sơ thẩm: - Bà Hồ Thị KD phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 3.282.000đ (ba triệu, hai trăm tám mươi hai nghìn) đồng. - Ông Lại VB được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.000.000 (một triệu) đồng theo biên lai thu số 0024383 ngày 01/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới (nay là phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 – An Giang). Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ