vanban.org

Bản án 04/2024/ST-HS — Hình sự

TAND huyện Phúc Thọ, TP. Hà Nội Tuyên án 15/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Quang C phạm tội “Trộm cắp T sản”.

Xử phạt bị cáo Vũ Quang C 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/10/2023. Về trách nhiệm dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án về tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Quang C phạm tội “Trộm cắp T sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HỆN PHÚC THỌ - TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/ST-HS;
Ngày: 15/01/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HỆN PHÚC THỌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thanh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hữu Tình.

Ông Lê Xuân Sơn.

- Thư ký phiên toà: Ông Lương Hữu Bình - Thư ký Toà án nhân Hện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Công Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân Hện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 124/2023/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/QĐXX ngày 29 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:

*Vũ Quang C, sinh năm 1995; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Vũ Văn Điệp; Nơi ĐKHKTT: thôn CL, xã XĐ, Hện Phúc Thọ, Hà Nội; Chỗ ở: thôn 3, xã VP, Hện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Vũ Văn P, sinh năm 1966 và bà Đào Thị N, sinh năm 1968; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án có 04 tiền án:

Tại Bản án số 82/2014/HSST ngày 11/12/2014 của TAND Hện Phúc Thọ, TP Hà Nội xử phạt 09 tháng tù, về tội Trộm cắp T sản, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng;

Tại Bản án số 119/2015/HSST ngày 19/5/2015 của TAND quận Cầu Giấy, TP Hà Nội xử phạt 12 tháng tù, về tội Trộm cắp T sản; Tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo của Bản án số 82/2014/HSST ngày 11/12/2014 của TAND Hện Phúc Thọ; Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt C là 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/01/2015 (chấp hành xong án phạt tù ngày 27/10/2016);

Tại Bản án số 249/2017/HSST ngày 01/11/2017 của TAND quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội xử phạt 30 tháng tù, về tội Trộm cắp T sản (chấp hành xong án phạt tù ngày 31/12/2019);

Tại Bản án số 25/2020/HSST ngày 19/11/2020 của TAND thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 36 tháng tù, về tội Trộm cắp T sản, chấp hành xong án phạt tù ngày 08/5/2023 (các tiền án chưa được xóa); Tiền sự: không có. Bị can bị bắt tạm giam từ ngày 04/10/2023 hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: 1. Chị Bùi Hồng H, sinh năm 2003; Địa chỉ: DDĐ, Chà Giang, Kiến Xương, Thái Bình.

2. Chị Nguyễn Thị Hà T, sinh năm 2003; Địa chỉ: Xóm 3, L:S, Anh Sơn, Nghệ An.

3. Chị Hà Thị T, sinh năm 1989; Địa chỉ: TDP HN, Thụy Phương, Bắc Từ Liêm, Hà Nội.

4. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 2001; Địa chỉ: LN, Ngư T, Lệ T, Quảng Bình.

5. Anh Hoàng Phú Đ, sinh năm 1998; Địa chỉ: TH, Eahồ, Krông Năng, Đaklak.

6. Chị Phạm Thị T, sinh năm 2001; Địa chỉ: YV, Quảng Yên, Quảng Xương, Thanh Hóa.

7. Chị Lê Thị T, sinh năm 2000; Địa chỉ: PL, Nam Giang, Thọ Xuân, Thanh Hóa.

8. Chị Lý Thị T, sinh năm 2001; Địa chỉ: Ngòi Khang, M Dân, Hàm Yên, Tuyên Quang.

9. Chị Nguyễn Thị Quỳnh M, sinh năm 2003; Địa chỉ: Số 27 tiểu khu Văn Chi, thị trấn Bắc Sơn, Bắc Sơn, Lạng Sơn.

10. Chị Lương Thị M, sinh năm 1991; Địa chỉ: TDP T M Xá, Mỹ Xá, Nam Định.

(Chị H, anh H, anh Đ, chị T, chị T, chị T, chị M, chị M đều ủy quyền cho anh Nguyễn Vỹ Trọng, sinh năm 1980 là Quản lý học viên trường Trung cấp nghề nhân lực Quốc tế Hà Nội; Địa chỉ: Thôn Phúc Xuyên, xã Võng Xuyên, Hện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội), có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Thế T, sinh năm 1982; Địa chỉ: Khu 3, xã Phú M, Hện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, vắng mặt.

2. Anh Vũ Ngọc T, sinh năm 1999; Địa chỉ: Thôn CL, xã XĐ, Hện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn có tiền tiêu sài cá nhân vào sáng ngày 11 và 12/8/2023, Vũ Quang C đã 02 lần đột nhập vào trường Trung cấp nghề nhân lực Quốc tế Hà Nội, thuộc Thôn Phúc Xuyên, xã Võng Xuyên, Hện Phúc Thọ, để trộm cắp T sản, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 01 giờ ngày 11/8/2023, C đi xe máy nhãn hiệu Honda Wave α màu xanh đen bạc, BKS: 29V3 – 571.55 từ nhà đến trường Trung cấp nghề nhân lực Quốc tế Hà Nội, rồi dựng xe ở ngoài đường giao thông và trèo qua tường bao vào bên trong trường, khi lên tầng 2 của tòa nhà A1 (là khu ký túc xá của học viên), quan sát thấy các cửa phòng ngủ đều khép hờ, không khóa, mọi người đã ngủ say, thấy màn hình điện thoại sáng, C vào 03 phòng ngủ lấy trộm được 05 chiếc điện thoại di động các loại để trên giường cất vào túi quần, cụ thể:

- Tại phòng 209: C lấy được 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A21S, màu xanh, đã qua sử dụng, của chị Bùi Hồng H, sinh năm 2003, ở DDĐ, Chà Giang, Kiến Xương, Thái Bình.

- Tại phòng 210: C lấy được 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, đã qua sử dụng, của chị Nguyễn Thị Hà T (SN: 2003, trú tại: Xóm 3, L:S, Anh Sơn, Nghệ An) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vinsmart màu hồng, đã qua sử dụng, của chị Hà Thị T (SN: 1989, trú tại: TDP HN, Thụy Phương, Bắc Từ Liêm, Hà Nội).

- Tại phòng 213: C lấy được 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi note 8, đã qua sử dụng, của anh Nguyễn Văn H, sinh năm 2001, trú tại: LN, Ngư T, Lệ T, Quảng Bình và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi note 11, màu xám, đã qua sử dụng, của anh Hoàng Phú Đ, sinh năm 1998, trú tại: TH, Eahồ, Krông Năng, Đaklak.

Sau khi lấy được 05 chiếc điện thoại di động, trên đường về nhà, khi đến đoạn gần cây xăng Cường Thịnh thuộc thôn Phúc Xuyên, Võng Xuyên, Phúc Thọ, C dừng lại kiểm tra thì phát hiện thấy chiếc điện thoại Redmi note 11, màu xám không bật được nguồn, C nghĩ là bị hỏng nên đã vứt bỏ ra bên rệ đường. Sau khi về nhà thay quần áo, C đi xe máy mang theo 04 chiếc điện thoại di động trên sang địa bàn Hện Sóc Sơn để bán. Trên đường đi, C đã tháo bỏ các sim điện thoại vứt đi. Khi đến trước cửa hàng điện thoại “Thế T Mobile” tại Khu 3, xã Phú M, Hện Sóc Sơn, Hà Nội, thấy mở cửa nên C đi vào hỏi bán cho anh Nguyễn Thế T 03 chiếc điện thoại là Iphone 11 Promax, Vsmart và SamSung, còn chiếc điện thoại Redmi thì cầm trên tay. C nói với anh T là “điện thoại khách bỏ quên trên xe, để lâu rồi giờ mới mang đi bán” nên không biết mật khẩu để mở máy. Anh T thỏa thuận giá và mua 02 chiếc điện thoại Iphone 11 Promax và Vsmart với giá 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Sau đó, C đi tiếp về thành phố Bắc Ninh, mục đích đi tìm chỗ bán nốt 02 chiếc điện thoại di động còn lại. Khi đi đến đoạn cầu Yên P, Bắc Ninh thấy có chốt Cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ, sợ không dám đi qua nên đã vào một quán nước ở ven đường gửi xe máy của mình rồi thuê xe ôm chở đến một cửa hàng mua bán điện thoại trong khu vực nhiều nhà thuê trọ, C vào cửa hàng, gặp một nam giới khoảng 30 tuổi, đưa 02 chiếc điện thoại còn lại nói là nhặt được và thỏa thuận bán 02 chiếc điện thoại với giá 1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm nghìn đồng). Sau khi bán xong điện thoại, C quay ra bảo người lái xe ôm chở về quán nước lấy xe máy, trả tiền xe ôm hết 60.000 đồng, rồi lấy xe máy đi về nhà.

Vụ thứ hai: Khoảng 01 giờ ngày 12/8/2023, C tiếp tục đi xe máy nhãn hiệu Honda Wave α màu xanh đen, BKS: 29V3 – 57155 đến trường Trung cấp nghề nhân lực Quốc tế Hà Nội để trộm cắp T sản. Do lối cầu thang bộ từ tầng 1 đi lên tầng 2 của tòa nhà A1 bị khóa nên C đã trèo theo đường dây chống sét để đi lên tầng 2, C thấy cửa phòng 206 chỉ khép hờ không khóa nên đã lẻn vào trong tìm và lấy trộm được 05 chiếc điện thoại di động các loại để trên giường ngủ, gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A22 màu đen, đã qua sử dụng, của chị Phạm Thị T, sinh năm 2001, trú tại: YV, Quảng Yên, Quảng Xương, Thanh Hóa; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax màu vàng, đã qua sử dụng, của chị Lê Thị T, sinh năm 2000, trú tại: PL, Nam Giang, Thọ Xuân, Thanh Hóa; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax màu đen, đã qua sử dụng, của chị Lý Thị T, sinh năm 2001, trú tại: Ngòi Khang, M Dân, Hàm Yên, Tuyên Quang; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu trắng, đã qua sử dụng, của chị Nguyễn Thị Quỳnh M, sinh năm 2003, trú tại: số 27 tiểu khu Văn Chi, thị trấn Bắc Sơn, Bắc Sơn, Lạng Sơn; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5, màu đen, đã qua sử dụng, của chị Lương Thị M, sinh năm 1991, trú tại: TDP T, M Xá, Mỹ Xá, Nam Định.

Sau khi lấy trộm được 05 chiếc điện thoại di động trên, C lấy xe máy đi về nhà thay quần áo, rồi tiếp tục mang 05 chiếc điện thoại vừa lấy trộm được đến cửa hàng điện thoại “Thế T Mobile” để bán, nhưng khi C đưa điện thoại và lại nói là "máy khách bỏ quên trên xe nên em lại đem bán cho anh", thì anh Nguyễn Thế T nghi ngờ về nguồn gốc nên chỉ trả giá rẻ mục đích để không mua nữa. Sau đó C đi sang thành phố Bắc Ninh, bán 05 chiếc điện thoại trên cho 05 cửa hàng mua bán điện thoại khác nhau (không rõ địa chỉ), được tổng số tiền là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) rồi đi về nhà.

Tổng số 02 lần trộm cắp T sản được 10 chiếc điện thoại di động các loại, đã vứt bỏ 01 chiếc còn 09 chiếc điện thoại được khoảng 7.600.000 đồng (bảy triệu sáu trăm nghìn đồng), số tiền này C đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại kết luận định giá số 34/2023/KL-HĐĐGTS ngày 19/9/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên Hện Phúc Thọ, xác định:

- Giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A21S, màu xanh, dung lượng 64G, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị chiếm đoạt vào ngày 11/8/2023 là 2.167.000đồng;

- Giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, dung lượng 64G, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị chiếm đoạt vào ngày 11/8/2023 là 9.500.000đồng;

- Giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu hồng, dung lượng 64G, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị chiếm đoạt vào ngày 11/8/2023 là 1.167.000đồng;

- Giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi note 8 màu xanh, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị chiếm đoạt vào ngày 11/8/2023 là 1.933.000đồng;

- Giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi note 11 màu xám, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị chiếm đoạt vào ngày 11/8/2023 là 2.500.000đồng;

- Giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A22 màu đen, dung lượng 64G, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị chiếm đoạt vào ngày 12/8/2023 là 2.633.000đồng;

- Giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSmax, màu đen, dung lượng 64G, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị chiếm đoạt vào ngày 12/8/2023 là 6.333.000đồng;

- Giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSmax, màu vàng, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị chiếm đoạt vào ngày 12/8/2023 là 6.433.000đồng;

- Giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu trắng, dung lượng 128G, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị chiếm đoạt vào ngày 12/8/2023 là 2.133.000đồng;

- Giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5, màu đen, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị chiếm đoạt vào ngày 12/8/2023 là 1.600.000đồng.

Tổng giá trị T sản chiếm đoạt, định giá là 36.399.000 đồng (Ba mươi sáu triệu, ba trăm chín mươi chín nghìn đồng).

* Về vật chứng, T sản thu giữ trong vụ án:

- Anh Nguyễn Thế T giao nộp 02 chiếc điện thoại di động; Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, không lắp sim, đã qua sử dụng, số IMEI 352856114010183 là T sản của chị Nguyễn Thị Hà T. Cơ quan CSĐT Công an Hện Phúc Thọ đã tiến hành trao trả chiếc điện thoại di động trên cho anh Nguyễn Vĩ Trọng người được chị T ủy quyền. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu Vsmart màu hồng, không lắp sim, đã qua sử dụng, mặt kính phía sau vỏ điện thoại bị nứt vỡ; Xác định đây là T sản của chị Hà Thị T, Cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả T sản cho chị Hà Thị T.

- Anh Vũ Ngọc T (anh trai của Vũ Quang C) giao nộp: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu sơn xanh đen bạc, biển kiểm soát 29V3-571.55, số máy JA39E2622548, số máy RLHJA3925NY125639 là xe máy do Vũ Quang C sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp T sản.

- Ông Vũ Văn P (là bố đẻ Vũ Quang C) đã giao nộp: 01 chiếc quần vải ngắn cạp quần bằng chun màu đen, mặt trước ống quần bên phải có in dòng chữ “ESS TRAINING” màu trắng; 01 chiếc khẩu T bằng vải, phần vải bên trong màu nâu, phần vải bên ngoài có hình kẻ caro màu đen, xám, trắng có thêu chữ “Duynga” bằng chỉ màu vàng; 01 đôi giày da màu trắng, đế cao su, thân giày có T trí sọc đỏ đen có in chữ bằng vải màu.

Đối với 01 chiếc USB màu đen và 02 thẻ nhớ bên trong có chứa nội dung ghi lại nội dung liên quan đến vụ án, đây là vật nhỏ gọn, nên cHển theo hồ sơ vụ án theo quy định.

* Về vấn đề dân sự trong vụ án:

Đối với chị Bùi Hồng H, anh Nguyễn Văn H, anh Hoàng Phú Đ, chị Phạm Thị T, chị Lê Thị T, chị Lý Thị T, chị Nguyễn Thị Quỳnh M, chị Lương Thị M đã ủy quyền cho anh Nguyễn Vĩ Trọng - Quản lý học viên của trường Trung cấp nghề nhân lực Quốc tế Hà Nội. Anh Trọng đại diện cho các bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường giá trị T sản bị chiếm đoạt theo quy định của pháp luật.

Đối với anh Nguyễn Thế T là người đã mua lại 02 chiếc điện thoại di động của Vũ Quang C, với số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), nay anh T không có yêu cầu bồi thường gì nên không đề cập giải quyết.

Tại Bản cáo trạng số 116/CT-VKS ngày 27/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Hện Phúc Thọ đã truy tố bị cáo Vũ Quang C về tội “Trộm cắp T sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Vũ Quang C về tội “Trộm cắp T sản”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm g, Khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Vũ Quang C từ 36 tháng ®Õn 42 th¸ng tï.

Về đân sự buộc bị cáo phải bồi thường trả tiền cho chị Bùi Hồng H 2.167.000đồng, anh Nguyễn văn H 1.933.000đồng, anh Hoàng Phú Đ 2.500.000đồng, chị Phạm Thị T 2.633.000đồng, chị Lý Thị T 6.333.000đồng, chị Lê Thị T 6.433.000đồng, chị Nguyễn Quỳnh M 2.133.000đồng, chị Lương Thị M 1.600.000đồng.

Buộc bị cáo Vũ Quang C nộp số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh:

Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra bị cáo Vũ Quang C khai nhận: Lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, Vũ Quang C đã 02 lần đến ký túc xá của trường Trung nghề nhân lực Quốc tế Hà Nội, tại thôn Phúc Xuyên, xã Võng Xuyên, Hện Phúc Thọ, trộm cắp T sản với tổng giá trị là 36.399.000 đồng, cụ thể:

Sáng ngày 11/8/2023, Vũ Quang C đã trộm cắp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A21S, màu xanh, đã qua sử dụng của chị Bùi Hồng H, trị giá 2.167.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng của chị Nguyễn Thị Hà T, trị giá 9.500.000 đồng; điện thoại di động nhãn hiệu Vinsmart màu hồng của chị Hà Thị T, trị giá 1.167.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi note 8 của anh Nguyễn Văn H, trị giá 1.933.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi note 11, màu xám của anh Hoàng Phú Đ, trị giá 2.500.000 đồng. Tổng cộng là 17.267.000 đồng.

Sáng ngày 12/8/2023, C đã trộm cắp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A22 màu đen của chị Phạm Thị T, trị giá 2.633.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax màu vàng của chị Lê Thị T, trị giá 6.433.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax màu đen của chị Lý Thị T, trị giá 6.333.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu trắng, của chị Nguyễn Thị Quỳnh M, trị giá 2.133.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5, màu đen của chị Lương Thị M, trị giá 1.600.000 đồng. Tổng cộng là 19.132.000 đồng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Quang C thấy phù hợp với lời trình bày của các bị hại, cùng các T liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Vũ Quang C đã cấu thành tội “Trộm cắp T sản”; bị cáo có tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân Hện Phúc Thọ truy tố và kết luận về hành vi của bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của người phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

HĐXX thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu T sản của công dân được pháp luật bảo mà còn gây mất trật tự, an toàn xã hội; bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp T sản và đã bị kết án tù nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện nên cần xử lý nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa C.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo trong quá trình điều tra và xét xử đã khai báo thành khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo thực hiện 02 hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất của vụ án các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân Hện Phúc Thọ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có T sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo C phải bồi thường cho các bị hại chị Bùi Hồng H 2.167.000đồng, anh Nguyễn Văn H 1.933.000đồng, anh Hoàng Phú Đ 2.500.000đồng, chị Phạm Thị T 2.633.000đồng, chị Lý Thị T 6.333.000đồng, chị Lê Thị T 6.433.000đồng, chị Nguyễn Quỳnh M 2.133.000đồng, chị Lương Thị M 1.600.000đồng.

Về số tiền thu lợi bất chính:

Bị cáo đã bán cho anh Nguyễn Thế T các T sản trộm cắp được là chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax và Vsmart với số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Đây là số tiền thu lợi bất chính nên cần buộc bị cáo nộp sung Ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu sơn xanh đen bạc, biển kiểm soát 29V3-571.55 là T sản hợp pháp của anh Vũ Ngọc T nên trả lại cho anh T.

Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc quần vải; 01 chiếc khẩu T bằng vải; 01 đôi giày da màu trắng là các đồ vật không có giá trị sử dụng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự;

Tuyên xử:

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Quang C phạm tội “Trộm cắp T sản”.

2. Xử phạt bị cáo Vũ Quang C 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/10/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo C phải bồi thường cho những người sau đây:

Chị Bùi Hồng H 2.167.000đ (Hai triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng), anh Nguyễn văn H 1.933.000đ (Một triệu chín trăm ba mươi ba nghìn đồng), anh Hoàng Phú Đ 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng), chị Phạm Thị T 2.633.000đ (Hai triệu sáu trăm ba mươi ba nghìn đồng), chị Lý Thị T 6.333.000đ (Sáu triệu ba trăm ba mươi nghìn đồng), chị Lê Thị T 6.433.000đ (Sáu triệu bốn trăm ba mươi ba nghìn đồng), chị Nguyễn Quỳnh M 2.133.000đ (Hai triệu một trăm ba mươi ba nghìn đồng) và chị Lương Thị M 1.600.000đ (Một triệu sáu trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

*Quyền yêu cầu thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các §iÒu 6, 7, 7a, 7b vµ 9 LuËt Thi hµnh ¸n D©n sù; thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 LuËt Thi hµnh ¸n D©n sù.

4. Về biện pháp tư pháp và vật chứng:

Buộc bị cáo Vũ Quang C nộp số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước.

+ Trả lại cho anh Vũ Ngọc T chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu sơn xanh đen bạc đã cũ, gắn biển kiểm soát 29V3-571.55, số máy JA39E2622548, số máy RLHJA3925NY125639.

Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc quần vải ngắn, cạp quần bằng chun màu đen mặt trước ống quần bên phải in dòng chữ “ESS TRAINING” màu trắng; 01 chiếc khẩu T bằng vải, phần vải bên trong màu nâu, phần vải bên ngoài có hình kẻ caro màu đen, xám, trắng có thêu chữ “Duynga” bằng chỉ màu vàng; 01 đôi giày da màu trắng, đế cao su, thân giày có T trí sọc đỏ đen có in chữ bằng vải màu.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/12/2023).

5. Về án phí: Bị cáo Vũ Quang C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) áp phí HSST và 1.286.000đ (Một triệu hai trăm tám mươi sáu nghìn đồng) án phí DSST.

6. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện theo ủy quyền của người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi họ cư trú.

Cỡ chữ