vanban.org

Bản án 04/2024/KDTM-PT — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 10/04/2024 Kinh doanh thương mại Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/04/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c vào khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, xử:

Hủy Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2023/KDTM-ST ngày 05 tháng 10 năm 2023 Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Án phí sơ thẩm sẽ được xem xét khi giải quyết… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "NH TMCP C khởi kiện công ty O về hợp đồng tín dụng và thế chấp tài sản"
  • Tòa quyết gì? Căn c vào khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, xử:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/KDTM-PT
Ngày 10 - 4 - 2024
“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng và
hợp đồng thế chấp tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Thành.

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thúy Mai;

Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Hiệp, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc: Bà Cao Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 10 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2023/TLPT- KDTM ngày 15 tháng 12 năm 2023 về việc ““Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản”.

Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2023/KDTM-ST ngày 05 tháng 10 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo và kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 28/2024/QĐ -PT ngày 05 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C;

Trụ sở: Số 108 T, quận H, thành phố Hà Nội.

Ngư i đại diện hợp pháp:

- Ông Nguyễn Viết P – Ch c vụ: Ph giám đốc Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh B; (C mặt).

- Ông Đỗ Trần Việt H – Ch c vụ: Ph phòng khách hàng doanh nghiệp (Nay là trưởng phòng t ng hợp) Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh B; (C mặt).

- Ông Hà Như H1 – Ch c vụ: Cán bộ xử lý nợ Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh B; (Vắng mặt).

Đều làm việc tại: Trụ sở Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh B tại thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.

(Theo Văn bản ủy quyền số 1260/UQ – HĐQT - NHCT.18 ngày 17/10/2022 của ông Trần Minh B - Ch c vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị)

2. Bị đơn: Công ty c phần đầu tư O.

Trụ sở chính: Số 15B19 phố N, phư ng N, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Ngư i đại diện hợp pháp: Bà Lê Thị Tuyết T – Ch c vụ: T ng Giám đốc.

Địa chỉ liên lạc cuối cùng: Số 44 L, phư ng P, quận Đ, thành phố Hà Nội; (Vắng mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Ngô Văn T1 - Ch c vụ: Giám đốc chi nhánh Công ty c phần đầu tư O tại Vĩnh Phúc.

Địa chỉ chi nhánh: Thôn T, xã T, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

Địa chỉ liên hệ: Phòng 515 – CT1A – khu đô thị N, phư ng C 1, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của ông Tâm: Ông Mậu Xuân C, sinh năm 1985.

Nơi thư ng trú: Số 19 t 1 G, phư ng N, quận T, thành phố Hà Nội; (Vắng mặt).

(Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 23/5/2023 của ông Ngô Văn T1)

- Ông Ngô Văn N, sinh năm 1963; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc; (Vắng mặt).

- Bà Tạ Thị P, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc; (Vắng mặt).

- Văn phòng Công ch ng L.

Ngư i đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị P - Ch c vụ Trưởng văn phòng.

Địa chỉ: Số 40 đư ng P, phư ng K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; (Vắng mặt).

4. Người kháng cáo: Ngân hàng TMCP C- Nguyên đơn.

5. Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 10 năm 2021, các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Nguyễn Viết P, ông Đỗ Trần Việt H và ông Hà Như H1,đã thống nhất trình bày như sau:

Căn c vào Quyết định ủy quyền số: 02/2020/VB - UQ ngày 25/09/2020 của T ng giám đốc Công ty c phần đầu tư O (gọi tắt là Công ty O) về việc, ủy quyền cho Chi nhánh Công ty O tại Vĩnh Phúc thực hiện các giao dịch v i Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh B (gọi tắt là Ngân hàng). Ngày 25/09/2020, Ngân hàng và Chi nhánh Công ty O tại Vĩnh Phúc c ký Hợp đồng cho vay hạn m c số: 87.0095/2020 - HĐCVHM/NHCT262 - O để cho Công ty O vay theo hạn m c số tiền 5,3 tỷ đồng v i l i suất thả n i tại th i điểm ký Hợp đồng tín dụng là 9,0 /năm. Th i hạn vay cụ thể ghi trên t ng giấy nhận nợ nhưng tối đa không vượt quá 06 tháng theo Hợp đồng cho vay hạn m c đ ký. Mục đích vay là để b sung vốn lưu động, phục vụ hoạt động kinh doanh xăng dầu các loại và sản xuất gia công các sản phẩm thủy tinh pha lê.

Sau khi ký Hợp đồng cho vay hạn m c, Ngân hàng đ giải ngân cho Công ty O vay toàn bộ số tiền ghi trong Hợp đồng tín dụng trên.

Để đảm bảo khoản vay nợ trên của Công ty O, bên th ba đ thế chấp cho Ngân hàng các tài sản bảo đảm theo các Hợp đồng thế chấp cụ thể như sau:

1/ Tài sản thứ nhất:

Tại Hợp đồng thế chấp tài sản số: 19.0093.0044/2019/HĐBĐ/NHCT262 ngày 26/09/2019. Tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất thửa đất số 441, diện tích 34,8 m2 , t bản đồ số: 7H – III – 25 tọa lạc tại số 15/87 ngõ Văn Hương, phư ng Hàng Bột, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội cùng toàn bộ các tài sản xây dựng gắn liến v i đất.Theo giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền v i đất số: CS 898971, số vào s cấp GCN: CS 36704, do Sở tài nguyên và môi trư ng thành phố Hà Nội cấp ngày 29/08/2019 đ ng tên ông Ngô Văn T1 được công ch ng tại Văn phòng công ch ng Lạc Việt, theo số công ch ng: 4754.2019, quyển số: 02 TP/CC – SCC/HĐGD ngày 19/8/2019.

2/ Tài sản thứ hai:

Tại Hợp đồng thế chấp tài sản số: 19.0093.0035/2019/HĐBĐ/NHCT262 ký ngày 04/09/2019. Tài sản đảm bảo là quyền sử dụng thửa đất số 291, diện tích 189m2, t bản đồ số 5 tọa lại tại thôn T, xã T, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Theo Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số: B 960646 do Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Lạc (nay là Ủy ban nhân dân huyện Yên Lạc) cấp ngày 05/12/1992, số vào s cấp GCN số: 1997QSDĐ/92, đ ng tên ông Ngô Văn N (gọi tắt là thửa đất 291) được công ch ng tại Văn phòng công ch ng Phạm Dương Đúng (cũ) nay là Văn phòng công ch ng L theo số công ch ng: 1130, quyển số: 01/2019/TP/CC – SCC/HĐGD ngày 04/9/2019.

Quá trình thực hiện hợp đồng: Sau khi được giải ngân tiền, Công ty O đ sử dụng vốn vay đúng mục đích và ban đầu trả nợ cho Ngân hàng được tiền gốc và tiền l i đầy đủ theo phân kỳ.

Cụ thể, Công ty O trả cho Ngân hàng được tiền nợ gốc là 2.304.000.000đ (Hai tỷ, ba trăm linh tư triệu đồng) và tiền l i tính đến hết ngày 25/02/2021 là 218.709.230đ (Hai trăm mư i tám triệu, bảy trăm linh chín nghìn, hai trăm ba mươi đồng). Đến tháng 3/2021, Công ty O đ vi phạm nghĩa vụ trả nợ tiền l i và tiền gốc đối v i Ngân hàng, nhiều lần Ngân hàng đôn đốc Công ty O thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình nhưng Công ty O vẫn không trả nợ cho Ngân hàng theo cam kết đ thỏa thuận. Do vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty O phải trả nợ cho Ngân hàng.

Tại đơn khởi kiện, Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc Công ty O phải trả cho Ngân hàng t ng số tiền còn nợ tính đến ngày 25/09/2021 là 4.094.747.072đ (Bốn tỷ, không trăm chín mươi tư triệu, bảy trăm bốn mươi bảy nghìn, không trăm bảy mươi hai đồng). Trong đ , tiền gốc là 3.846.000.000đ, tiền l i trong hạn là 194.453.521đ, tiền l i quá hạn là 4.293.551đ và trả tiếp tục trả tiền l i phát sinh trên dư nợ gốc chưa trả kể t ngày 26/09/2021 cho đến khi trả xong nợ theo thỏa thuận của Hợp đồng cho vay hạn m c hai bên đ ký. Trong trư ng hợp, Công ty O không trả được nợ cho Ngân hàng thì tài sản đảm bảo của bên th ba đ thế chấp tại các Hợp đồng thế chấp tài sản, Ngân hàng sẽ được quyền xử lý để đảm bảo việc thu hồi nợ.

Tại đơn sửa đ i, b sung rút một phần yêu cầu khởi kiện đề ngày 15/9/2022, Ngân hàng xin rút một phần yêu cầu khởi kiện của mình. Cụ thể:

Xin rút yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo tại Hợp đồng thế chấp tài sản số: 19.0093.0044/2019/HĐBĐ/NHCT262 ký ngày 26/09/2019 đối v i quyền sử dụng đất thửa đất số 441, diện tích 34,8 m2 , t bản đồ số: 7H – III – 25 tọa lạc tại số 15/87 ngõ Văn Hương, phư ng Hàng Bột, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội cùng toàn bộ các tài sản xây dựng gắn liến v i đất. Theo giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền v i đất số: CS 898971, số vào s cấp GCN: CS 36704, do Sở tài nguyên và môi trư ng thành phố Hà Nội cấp ngày 29/08/2019 đ ng tên ông Ngô Văn T1 đồng th i xin rút yêu cầu Công ty O trả nợ đối v i số tiền tương ng v i nghĩa vụ được bảo đảm bằng tài sản theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 19.0093.0044/2019/HĐBĐ/NHCT262 ký ngày 26/09/2019 đối v i số tiền nợ gốc và tiền l i phát sinh tính đến ngày 26/9/2021 là 1.076.388.271đ (Một tỷ, không trăm bảy mươi sáu triệu, ba trăm tám mươi tám nghìn, hai trăm bảy mươi một nghìn).

Sau khi đối tr số tiền nợ gốc và tiền l i phát sinh trên số nợ gốc đ rút ở trên, tính đến ngày 28/9/2023, Công ty O còn nợ Ngân hàng t ng số tiền cả gốc và l i là 3.751.248.930đ. Trong đ tiền nợ gốc là 2.835.000.000đ (Hai tỷ, tám trăm ba mươi năm triệu đồng), tiền l i trong hạn là 654.336.464đ và tiền l i quá hạn là 261.912.466đ. Do vậy, Ngân hàng yêu cầu Công ty O phải trả nợ cho Ngân hàng toàn bộ số tiền còn nợ ở trên và tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng tiền l i phát sinh trên số tiền gốc còn nợ tính đến hết ngày 28/9/2023 theo l i suất đ thỏa thuận ghi trong Hợp đồng cho vay hạn m c đ ký. Kể t ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, Công ty O còn phải chịu khoản tiền l i của số tiền còn phải thi hành án theo m c l i suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trong trư ng hợp Công ty O không trả được nợ cho Ngân hàng thì tài sản đảm bảo của bên th ba hiện đang thế chấp tại Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 19.0093.0035/2019/HĐBĐ/NHCT262 ký ngày 04/09/2019 sẽ bị xử lý để thu hồi nợ theo quy định.

Đối v i yêu cầu độc lập của bà Tạ Thị P:

Tại phiên tòa, ngư i đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thống nhất trình bày: Khi nhận thế chấp tài sản, căn c Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, đơn xác nhận nguồn gốc tài sản và Giấy ch ng nhận đăng ký kết hôn của ông Ngô Văn N xuất trình. Ngân hàng xác định, tài sản mà ông Năm đem đi thế chấp để đảm bảo cho khoản vay nợ của Công ty O là tài sản riêng của ông Năm hình thành trư c th i kỳ hôn nhân nên Ngân hàng không đưa bà P vào tham gia ký Hợp đồng thế chấp và không c bất kỳ thông báo gì đối v i bà P. Bà P yêu cầu Tòa án công nhận khối tài sản tại thửa đất 291 hiện ông Năm đang thế chấp tại Ngân hàng là tài sản chung hợp nhất của ông Năm và bà P để yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng thế chấp tài sản số: 19.0093.0035/2019/HĐBĐ/NHCT262 ký ngày 04/09/2019 giữa Ngân hàng và ông Ngô Văn N vô hiệu là không c căn c . Vì vậy, Ngân hàng không đồng ý yêu cầu độc lập của bà P và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa ngày 05/10/2023, ngư i đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin b sung thêm nội dung khởi kiện. Đề nghị Tòa án giải quyết hậu quả pháp lý trong trư ng hợp chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Tạ Thị P, tuyên bố Hợp đồng thế chấp tài sản số: 19.0093.0035/2019/HĐBĐ/NHCT262 ký ngày 04/09/2019 vô hiệu. Hiện tại, do nguyên đơn chưa xác định được m c độ bị thiệt hại cụ thể nên Ngân hàng chưa thể đưa ra được con số thiệt hại chính xác để yêu cầu những ngư i c liên quan phải c nghĩa vụ bồi thư ng.

Về chi phí tố tụng:

- Đối v i chi phí thẩm định tài sản đảm bảo tại Hợp đồng thế chấp số: 19.0093.0044/2019/HĐBĐ/NHCT262 ngày 26/09/2019 đ ng tên ông Ngô Văn T1 và chi phí tống đạt trên P tiện thông tin đại chúng đối v i bà Lê Tuyết T thì nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ.

- Đối v i chi phí thẩm định tài sản đảm bảo tại Hợp đồng thế chấp số: 19.0093.0035/2019/HĐBĐ/NHCT262 ký ngày 04/09/2019 đ ng tên ông Ngô Văn N, nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Bị đơn, Công ty O do bà Lê Tuyết T là người đại diện hợp pháp của Công ty O đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ đối với bà T trên P tiện thông tin đại chúng nhưng đến nay bà T vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên bà T không có lời khai.

Tòa án tiến hành lấy l i khai của ông Ngô Văn Chín nguyên là T ng giám đốc Công ty O, ông Chín trình bày:

Năm 2020, ông được b nhiệm làm T ng giám đốc của Công ty O đến khoảng giữa năm 2021 thì ông nghỉ không làm nữa. Trong th i gian ông giữ ch c vụ T ng giám đốc Công ty O, ông c ký văn bản ủy quyền cho ông Ngô Văn T1 ch c vụ Giám đốc Chi nhánh Công ty O tại Vĩnh Phúc đ ng vay tiền của Ngân hàng. Cụ thể số tiền vay, tài sản thế chấp như thế nào thì ông không nắm được. Ông Tâm là ngư i trực tiếp ký Hợp đồng vay tiền và Hợp đồng thế chấp tài sản v i Ngân hàng nên ông không nắm được thủ tục ra sao. Do ông Tâm là ngư i được ông ủy quyền vay vốn Ngân hàng nên ông Tâm phải chịu toàn bộ trách nhiệm trư c Công ty O về việc vay vốn tại Ngân hàng của Công ty O. Sau khi Ngân hàng giải ngân cho Công ty O vay tiền, ông Tâm là ngư i trực tiếp nhận tiền nên ông Tâm cũng là ngư i trực tiếp sử dụng toàn bộ số tiền Ngân hàng đ giải ngân cho Công ty O vay. Hàng tháng, ông Tâm cũng là ngư i trực tiếp trả l i đối v i khoản vay nợ trên của Công ty O. Hiện tại, do ông không còn làm việc tại Công ty O nữa nên ông không nắm được thông tin gì liên quan đến hoạt động kinh doanh của Công ty O.

Bà Tạ Thị P là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà trình bày như sau:

Bà là vợ của ông Ngô Văn N, bà và ông Năm sống chung v i nhau như vợ chồng t cuối năm 1990 nhưng đến tháng 01/1993 bà và ông Năm m i làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân x T. Năm 1991, x T c chủ trương bán đất cho dân nhưng theo hình th c bỏ thầu nên bà và ông Năm đ cùng nhau mua thửa đất 291 của x T. Năm 1992, ông Năm được Nhà nư c cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng thửa đất 291 theo quy định. Th i điểm ông Năm được Nhà nư c cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng thửa đất do bà và ông Năm chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn, lúc đ hộ khẩu của bà vẫn đang ở x Tề Lỗ nên chỉ c một mình ông Năm được đ ng tên trong Giấy ch ng nhận quyền sử dụng thửa đất 291. Sau khi được giao đất, do thửa đất 291 toàn là thùng vũng, mương sâu nên ông bà phải bỏ rất nhiều công s c ra để đ đất san nền cho bằng phẳng rồi trồng cây. Ông Năm và bà cùng nhau sử dụng thửa đất 291 đến năm 1996 thì ông Năm sang Cộng Hòa Séc làm ăn, thỉnh thoảng gia đình c công to việc l n gì m i về. Bà ở nhà tiếp tục đ đất san nền và trồng cây tại thửa đất 291 đến năm 1997 thì bà làm lán để cho ông Nguyễn Văn Sơn ngư i cùng thôn T thuê mở quán v a sửa xe và v a trông đất hộ ông bà. Năm 1998, bà theo ông Năm sang Cộng Hòa Séc làm ăn. Ông Sơn thuê đất và nhà của ông bà được vài năm thì không thuê nữa. Do quán để lâu không c ngư i ở nên rột nát xuống cấp tự đ . Năm 2019, ông bà về Việt Nam chơi, vợ chồng ông Phạm Văn Tuấn, bà Phan Thị Tỉnh c nhu cầu thuê đất để làm xưởng kinh doanh lốp ô tô nên ông bà đ đồng ý cho vợ chồng ông Tuấn, bà Tỉnh thuê đất để kinh doanh, th i hạn thuê là 03 năm. Vợ chồng bà v i vợ chồng ông Tuấn đ thống nhất, ông bà phải xây dựng nhà xưởng lên đất để cho vợ chồng ông Tuấn kinh doanh lốp ô tô thì vợ chồng ông Tuấn m i thuê. Th i điểm đ , do ông bà không sinh sống thư ng xuyên ở Việt Nam, lại dơi đúng vào lúc dịch Covitd – 19 bùng phát mạnh nên ông bà không về Việt Nam để làm xưởng được. Vì vậy, ông bà đ gửi tiền về cho vợ chồng ông Tuấn làm xưởng giúp. T ng cộng, ông bà đ đưa cho vợ chồng ông Tuấn 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng) để làm xưởng. Trong đ c 50.000.000đ là bằng tiền mặt và 100.000.000đ tr vào tiền thuê đất, xưởng hàng năm. Năm 2021, ông Tuấn bà Tỉnh làm xong xưởng và đi vào kinh doanh. Ông bà và vợ chồng ông Tuấn thống nhất, giá thuê đất c nhà xưởng sẵn là 150.000.000đ/3năm. Ban đầu, tiền thuê đất và nhà xưởng ông bà tr vào tiền làm xưởng cho vợ chồng ông Tuấn là 100.000.000đ tương ng v i th i gian thuê là 02 năm. Do vậy, thực tế ông bà m i chỉ nhận tiền thuê đất, nhà xưởng của vợ chồng ông Tuấn 50.000.000đ. Đến tháng 5/2024, Hợp đồng thuê đất và nhà xưởng của vợ chồng bà và vợ chồng ông Tuấn m i hết hạn.

Bà xác định khối tài sản trên thửa đất 291 đ ng tên ông Năm là tài sản chung hợp nhất của bà và ông Năm tạo dựng được trong th i kỳ hôn nhân. Năm 2010, ông bà đ đem quyền sử dụng thửa đất 291 đi thế chấp tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Tam Đảo, Vĩnh Phúc II (gọi tắt là Ngân hàng Tam Đảo) để cho vợ chồng bà Ngô Thị Bảy (là em gái ông Năm) vay tiền. Đến năm 2019, vợ chồng bà Bảy trả nợ cho Ngân hàng nông nghiệp Tam Đảo xong thì vợ chồng bà Bảy trả lại cho ông bà quyền sử dụng thửa đất 291. Năm 2019, ông Năm đi thế chấp thửa đất 291 cho Ngân hàng C để đảm bảo cho Công ty O vay tiền bà không ở Việt Nam nên bà không biết gì về việc thế chấp trên của ông Năm. Ngân hàng nhận thế chấp tài sản của ông Năm cũng không thông báo gì cho bà biết cho nên bản thân bà không được tham

gia

ký

Hợp

đồng

thế

chấp

tài

sản

số: 19.0093.0044/2019/HĐBĐ/NHCT262 ngày 26/09/2019. Tháng 8/2023, bà được ngư i thân thông báo cho biết Ngân hàng C khởi kiện Công ty O yêu cầu trả nợ, nếu trư ng hợp Công ty O không trả được nợ thì tài sản đảm bảo của ông Năm là thửa đất 291 đang thế chấp tại Ngân hàng sẽ bị xử lý để thu hồi nợ nên bà m i biết Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án liên quan đến tài sản của bà. Việc ông Năm tự ý lấy tài sản chung của bà và ông Năm đi thế chấp cho Ngân hàng để đảm bảo khoản vay nợ của Công ty O là vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bà. Vì vậy, bà không đồng ý cho Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp của ông Năm trong trư ng hợp Công ty O không trả được nợ đồng th i bà c đơn yêu cầu độc lập đối v i Ngân hàng, bà đề nghị Tòa án tuyên bố Hợp đồng thế chấp tài sản số: 19.0093.0044/2019/HĐBĐ/NHCT262 ký giữa ông Năm và Ngân hàng vào ngày 26/09/2019 vô hiệu. Yêu cầu Ngân hàng trả lại cho gia đình bà Giấy ch ng nhận quyền sử dụng thửa đất 291, bà tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

Tại phiên tòa, bà xin b sung yêu cầu độc lập của mình, đề nghị Tòa án công nhận thửa đất 291 và các tài sản xây dựng gắn liền v i đất là tài sản chung hợp nhất của bà và ông Năm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Ngô Văn N trình bày:

Về khoản vay nợ của Công ty O tại Ngân hàng cụ thể như thế nào thì ông không nắm được nên ông không c ý kiến trình bày gì.

Về th i gian ký Hợp đồng thế chấp, tài sản thế chấp, ông Năm th a nhận đúng như l i trình bày trên của ngư i đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng.

Ngân hàng khởi kiện, trong trư ng hợp Công ty O không trả được nợ, thì tài sản thế chấp mà ông đảm bảo cho khoản vay nợ của Công ty O tại Ngân hàng sẽ bị xử lý để thu hồi nợ, ông không đồng ý.

Ông Năm xác định, nguồn gốc, quá trình sử dụng tài sản thế chấp và th i gian ông và bà P sống chung v i nhau như vợ chồng đúng như l i trình bày ở trên của bà P. Th i điểm ông đem thửa đất 291 đi thế chấp cho Ngân hàng, bà P đang ở Cộng hòa Séc không ở Việt Nam, ông không n i cho bà P biết việc ông đem tài sản đi thế chấp nên bà P không biết gì về việc thế chấp của ông là thật.

Ông th a nhận, trư c khi Ngân hàng nhận thế chấp thửa đất 291. Ông c làm đơn đề nghị x T xác nhận cho ông nội dung. Thửa đất 291 là tài sản hình thành trư c hôn nhân của ông v i bà P v i lý do ngày cấp Giấy ch ng nhận quyền sử dụng thửa đất 291 là ngày 05/12/1992, ngày ông và bà P đăng ký kết hôn v i nhau tại x T là ngày 30/01/1993. Ông không đề nghị xác nhận, thửa đất 291 là tài sản riêng của ông.

Ông Năm và bà P đều xác nhận, ông bà hiện tại tuy là đang làm ăn ở Cộng hòa Séc nhưng hàng năm ông bà vẫn thư ng xuyên đi lại về Việt Nam, những lúc gia đình c công to việc l n gì thì ông bà đều c mặt tại Việt Nam. Hộ khẩu thư ng trú của ông bà hiện nay vẫn ở thôn T, xã T, huyện Yên Lạc. Ông bà vẫn mang quốc tịch Việt Nam.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Ngô Văn T1 và người đại diện hợp pháp của ông T1 là ông Mậu Xuân C: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không c lý do chính đáng nên ông Tâm và ông Cư ng không c l i khai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Văn phòng công chứng L do bà Lê Thị P là người đại diện hợp pháp trình bày:

Căn c vào hồ sơ đề nghị công ch ng của khách hàng và các tài liệu ch ng c kèm theo, Văn phòng công ch ng L khẳng định. Quy trình công ch ng đối v i tài sản thế chấp của ông Ngô Văn N tại thửa đất 291 là đúng quy định của Luật công ch ng. Tại th i điểm công ch ng các bên tham gia ký Hợp đồng thế chấp đều tự nguyện và c năng lực hành vi dân sự. Việc công ch ng Hợp đồng thế chấp được thực hiện tại trụ sở Văn phòng công ch ng, quy trình công ch ng đúng theo quy định nên việc bà P yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng thế chấp tài sản số: 19.0093.0044/2019/HĐBĐ/NHCT262 ký ngày 26/09/2019, giữa Ngân hàng và ông Năm vô hiệu là không c căn c . Do vậy, Văn phòng công ch ng không đồng ý, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tòa án tiến hành lấy lời khai của ông Nguyễn Văn Sơn là người thuê đất và nhà tại thửa đất 291 đứng tên ông Năm, ông Sơn trình bày:

Ông xác nhận về nguồn gốc, quá trình sử dụng thửa đất và th i gian ông thuê đất và nhà của ông Năm bà P để làm quán sửa chữa xe máy đúng như l i trình bày trên của bà P.

Ông xác nhận, trư c khi làm đám cư i, bà P và ông Năm đ c th i gian sống chung v i nhau như vợ chồng mấy năm, còn kết hôn v i nhau như thế nào thì ông Sơn không nắm được.

Tòa án tiến hành lấy lời khai của ông Phạm Văn Tuấn và bà Phan Thị Tỉnh là người thuê đất và nhà tại thửa đất 291 đứng tên ông Năm, ông Tuấn bà Tỉnh thống nhất trình bày:

Ông bà đều xác nhận, về nguồn gốc, quá trình sử dụng thửa đất và th i gian ông thuê đất và nhà xưởng của ông Năm bà P để kinh doanh lốp ô tô đúng như l i trình bày trên của bà P.

Nguồn tiền xây dựng lán xưởng để ông bà kinh doanh lốp ô tô, ông Tuấn bà Tỉnh th a nhận là của ông Năm bà P. Khi làm xưởng, do ông Năm bà P không ở Việt Nam nên ông Năm bà P đ giao tiền cho ông bà đ ng lên làm xưởng hộ. Việc làm xưởng và thỏa thuận thuê đất và nhà xưởng giữa ông bà v i vợ chồng ông Năm bà P diễn ra đúng như l i trình bày của bà P ở trên. Tính đến th i điển hiện tại, giữa ông bà và vợ chồng ông Năm bà P không liên quan gì v i nhau về tiền bạc thuê đất và nhà xưởng. Th i hạn thuê đất và nhà xưởng của ông bà đến hết tháng 4/2024 thì hết hạn. Nếu ông Năm bà P không cho ông bà thuê đất và nhà xưởng nữa thì ông bà sẽ bàn giao trả lại tài sản cho ông Năm bà P. Ông bà xác định, ông bà không c công s c gì đ ng g p vào khối tài sản của ông Năm bà P tại thửa đất 291 nên ông bà đề nghị Tòa án không đưa ông bà tham gia tố tụng đối v i vụ án này.

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2023/KDTM-ST ngày 05 tháng 10 năm 2023 Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đ quyết định:

- Đình chỉ xét xử đối v i phần yêu cầu xin rút của Ngân hàng về số tiền nợ gốc và l i phát sinh tương ng v i nghĩa vụ được bảo đảm bằng tài sản theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 19.0093.0044/2019/HĐBĐ/NHCT262 ký ngày 26/09/2019 tính đến ngày 26/9/2021 là 1.076.388.271đ (Một tỷ, không trăm bảy mươi sáu triệu, ba trăm tám mươi tám nghìn, hai trăm bảy mươi một nghìn) và toàn bộ tài sản đảm bảo đ thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản ở trên.

Ngân hàng được quyền khởi kiện lại đối v i yêu cầu xin rút ở trên theo quy định của pháp luật.

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C (gọi tắt là Ngân hàng) đối v i bị đơn Công ty c phần đầu tư O (gọi tắt là Công ty O) về việc trả nợ.

Buộc Công ty O phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, t ng số tiền nợ gốc và tiền l i phát sinh tính đến hết ngày 28/9/2023 theo m c l i suất thỏa thuận ghi trong Hợp đồng cho vay hạn m c là 3.751.248.930đ (Ba tỷ, bảy trăm năm mươi mốt triệu, hai trăm bốn mươi tám nghìn, chín trăm ba mươi đồng). Trong đ bao gồm, nợ gốc là 2.835.000.000đ (Hai tỷ tám trăm ba mươi năm triệu đồng), tiền l i trong hạn là 654.336.464đ (Sáu trăm năm mươi tư triệu, ba trăm ba mươi ba mươi sáu nghìn, bốn trăm sáu mươi bốn đồng) và tiền l i quá hạn là 261.912.466đ (Hai trăm sáu mươi một triệu, chín trăm nư i hai nghìn, bốn trăm sáu mươi sáu đồng) và tiếp tục phải trả nợ tiền l i phát sinh trên số tiền còn nợ tính đến ngày 28/9/2023 đến ngày 05/10/2023, kể t ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, Công ty O còn phải chịu khoản tiền l i của số tiền còn phải thi hành án theo m c l i suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Tạ Thị P đối v i Ngân hàng. Công nhận quyền sử dụng thửa đất số 291, diện tích 189m2, t bản đồ số 5 địa chỉ tại thôn T, xã T, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc cùng các tài sản xây dựng gắn liền v i đất là tài sản chung hợp nhất của ông Ngô Văn N bà Tạ Thị P tạo lập được trong th i kỳ hôn nhân. Tuyên bố, Hợp đồng thế chấp tài sản số: 19.0093.0044/2019/HĐBĐ/NHCT262 ký ngày 26/09/2019, giữa Ngân hàng và ông Ngô Văn N được công ch ng tại Văn phòng công ch ng Phạm Dương Đúng (cũ) nay là Văn phòng công ch ng L theo số công ch ng: 1130, quyển số: 01/2019/TP/CC – SCC/HĐGD ngày 04/9/2019 vô hiệu.

Ngân hàng c nghĩa vụ trả lại cho gia đình bà Tạ Thị P Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số: B 960646 do Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Lạc (cũ) nay là Ủy ban nhân dân huyện Yên Lạc cấp ngày 05/12/1992 đ ng tên ông Ngô Văn N.

- Tách yêu cầu của Ngân hàng về việc, đề nghị Tòa án giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố Hợp đồng thế chấp tài sản vô hiệu để giải quyết bằng một vụ án dân sự khác khi Ngân hàng cung cấp được đầy đủ tài liệu, ch ng c liên quan đến thiệt hại thực tế xảy ra.

- Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 09/10/2023 Ngân hàng TMCP C c đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hư ng: Hợp đồng thế chấp tài sản số 19.0093.0044/2019/HĐBĐ/NHCT262 ký ngày 04/09/2019, giữa Ngân hàng và ông Ngô Văn N c hiệu lực pháp luật. Ngân hàng TMCP C được xử lý tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền v i thửa đất c diện tích 189m2 tại thôn T, xã T, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc thuộc số thửa 291, t bản đồ số 5 theo Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số: B 960646 do Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Lạc (cũ) nay là Ủy ban nhân dân huyện Yên Lạc cấp ngày 05/12/1992 đ ng tên ông Ngô Văn N.

Ngày 06/11/2023 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc c quyết định kháng nghị phúc thẩm số 416/QĐ-VKS-KDTM đối v i Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2023/KDTM-ST ngày 05 tháng 10 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Lạc. Đề nghị tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và không rút kháng cáo. Viện kiểm sát không rút kháng nghị. Các đương sự không thỏa thuận được v i nhau về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án t khi thụ lý vụ án đến trư c khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, Thẩm phán và các đương sự đ chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đ thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố Tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của họ.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn c khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự, hủy Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2023/KDTM-ST ngày 05 tháng 10 năm 2023 Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Đơn kháng cáo của Ngân hàng TMCP C và quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc trong th i hạn luật định, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Những ngư i c quyền lợi. nghĩa vụ liên quan đ được triệu tập hợp lệ đến lần th hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm nên Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt họ.

Trong vụ án này Tòa án cấp sơ thẩm không triệu tập được ngư i đại diện theo pháp luật của Công ty O là bà Lê Thị Tuyết T và cũng đ xác minh thì được biết bà T không còn ở địa chỉ cư trú. Đáng ra Tòa án cấp sơ thẩm phải triệu tập chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty để làm đại diện bị đơn tham gia tố tụng m i đảm bảo quyền, nghĩa vụ của công ty nhưng Tòa án sơ thẩm không triệu tập và không đưa chủ tịch Hội đồng quản trị vào tham gia tố tụng v i tư cách bị đơn là thiếu sót cần rút kinh nghiệm.

Về nội dung kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

Về nội dung kháng nghị bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm có vi phạm trong việc thụ lý yêu cầu độc lập của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xử xét thấy:

Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, đại diện của Ngân hàng đều yêu cầu Tòa án buộc Công ty O phải trả nợ cho Ngân hàng t ng số tiền cả gốc và lãi do vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Trư ng hợp sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nhưng Công ty C phần đầu tư O không trả ngay số nợ cho Ngân hàng thì đề nghị Tòa án cho xử lý tài sản đảm bảo của bên th ba hiện đang thế chấp tại Ngân hàng để thu hồi nợ (Trong đ c Hợp đồng thế chấp tài sản số 19.0093.0035/2019/LĐBĐ/NH CT262 ký ngày 04/9/2019 giữa Ngân hàng v i ông Ngô Văn N).

Ngày 17/8/2023, bà Tạ Thị P là vợ ông Ngô Văn N c đơn yêu cầu độc lập, đề nghị Tòa án tuyên bố Hợp đồng thế chấp tài sản số 19.0093.0035/2019/LĐBĐ/NH CT262 ký ngày 04/9/2019 giữa Ngân hàng v i ông Ngô Văn N vô hiệu.

Yêu cầu độc lập của bà P được Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc chấp nhận và đ yêu cầu bà P nộp tiền tạm ng án phí v i số tiền 2.000.000 đồng. Ngày 20/9/2023, Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc đ c Thông báo thụ lý số 03/2023/TB-TLYCĐL đối v i yêu cầu độc lập của bà P.

Như vậy, yêu cầu của bà P chỉ được coi là ý kiến của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối v i yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bởi trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án phải xem xét hiệu lực của hợp đồng thế chấp tài sản, nếu hợp đồng thế chấp tài sản vi phạm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật thì Tòa án phải tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu mà không phụ thuộc vào việc đương sự có yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu hay không. Yêu cầu của bà Tạ Thị P không phải là yêu cầu độc lập. Việc Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xác định nội dung yêu cầu của bà P là yêu cầu độc lập của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để thụ lý, giải quyết là không đúng quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ Luật tố tụng dân sự.

Do Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xác định nội dung yêu cầu của bà P là yêu cầu độc lập của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đ quyết định chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Tạ Thị P đối v i Ngân hàng Tuyên bố, Hợp đồng thế chấp tài sản số 19.0093.0044/2019/IIDBĐ/NHCT262 ký ngày 26/9/2019 giữa Ngân hàng và ông Ngô Văn N vô hiệu nên buộc Ngân hàng phải chịu án phí yêu cầu độc lập v i số tiền 300.000 đồng là không đúng quy định pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi hợp pháp của Ngân hàng.

Nội dung kháng nghị trên là c cơ sở nên được chấp nhận.

Về nội dung kháng nghị Bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm vi phạm trong việc đánh giá ch ng c , Hội đồng xét xử xét thấy:

Thửa đất số 291 được UBND huyện Vĩnh Lạc (nay là Ủy ban nhân dân huyện Yên Lạc) cấp ngày 05/12/1992 cho ông Ngô Văn N là do ông Năm mua đấu thầu của UBND xã T năm 1991, đến năm 1992 thì UBND huyện Vĩnh Lạc (cũ) cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất đ ng tên cá nhân ông Ngô Văn N. Đến năm 1993, ông Năm m i kết hôn v i bà P. Ông Năm, bà P đều khai ông bà sống chung như vợ chồng t cuối năm 1990 đến năm 1993 m i làm thủ tục đăng ký kết hôn. T khi được cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay đ hơn 30 nhưng ông Năm, bà P chưa bao gi đề nghị cơ quan nhà nư c có thẩm quyền làm thủ tục cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất đ ng tên hai vợ chồng.

Tuy nhiên, trư c khi vay vốn Ngân hàng TMCP C thì ông Năm và bà P đ t ng vay vốn của ngân hàng khác và thế chấp bằng thửa đất này. Khi thế chấp c cả ông Năm và bà P ký kết hợp đồng thế chấp. Đến khi ông Ngô Văn N ký Hợp đồng thế chấp tài sản số 19.0093.0044/2019/IIDBĐ/NHCT262 ký ngày 26/9/2019 v i Ngân hàng TMCP C thì không có bà P ký, ông Năm đ tự mình c đơn đề nghị UBND xã T, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc xác nhận thửa đất số 291 nêu trên là tài sản hình thành trư c hôn nhân và cam kết: Tài sản thế chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình, không bị ràng buộc về quyền sở hữu v i bất kỳ bên th ba nào khác. Bản án sơ thẩm xác định “quyền sử dụng thửa đất số 291, diện tích 189m2, tờ bản đồ số 5 tọa lại tại thôn T, xã T, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc cùng các tài sản xây dựng gắn liền với đất là tài sản chung hợp nhất của ông Ngô Văn N bà Tạ Thị P tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân”; kháng nghị của Viện kiểm sát cho rằng “Bản án số 05/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc đã quyết định chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Tạ Thị P. Tuyên bố: Công nhận quyền sử dụng thửa đất số 291, diện tích 189m², tờ bản đồ số 5 tọa lại tại thôn T, xã T, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc cùng các tài sản xây dụng gắn liền với đất là tài sản chung hợp nhất của ông Ngô Văn N, bà Tạ Thị P tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân. Tuyên bố Hợp đồng thế chấp tài sản số 19.0093.0044/2019/IIDBĐ/NHCT262 ký ngày 26/9/2019, giữa Ngân hàng và ông Ngô Văn N vô hiệu là đánh giá chứng cứ chưa khách quan, toàn diện, chính xác và không có căn cứ pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, vi phạm khoản 1 Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về đánh giá chứng cứ” là đều chưa c cơ sở.

Cần phải làm rõ trư c khi kết hôn thì ông Năm và bà P có thực sự ở chung v i nhau như vợ chồng hay không? Lý do tại sao ở chung vài năm m i kết hôn? Trong th i gian ở chung trư c khi kết hôn thì năng lực tài chính của hai bên như thế nào, có chung nhau tài sản không? Tại sao trư c khi vay vốn Ngân hàng TMCP C thì ông Năm và bà P đ t ng vay vốn của ngân hàng khác và thế chấp bằng thửa đất này. Khi thế chấp c cả ông Năm và bà P ký kết hợp đồng thế chấp mà đến khi vay vốn tại Ngân hàng TMCP Công thương thì chỉ ông Năm ký? Vì sao ông làm đơn đề nghị UBND xã T, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc xác nhận thửa đất số 291 nêu trên là tài sản hình thành trư c hôn nhân và cam kết: Tài sản thế chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình, không bị ràng buộc về quyền sở hữu v i bất kỳ bên th ba nào khác? Ông Năm phải chịu trách nhiệm như thế nào đối v i cam kết này? Sau khi ông Năm tự mình thế chấp thửa đất cho Ngân hàng TMCP Công thương thì bà P c biết không? Nếu biết thì bà c khiếu nại đến cơ quan t ch c nào không? T đ m i c c sở để đánh giá khách quan, toàn diện về hiệu lực của hợp đồng thế chấp. Do ông Năm, bà P không có mặt tại phiên tòa phúc thẩm nên không làm rõ được các nội dung nêu trên.

Như vậy, v i những ch ng c Toà án cấp sơ thẩm đ thu thập thì chưa đủ căn c để tuyên bố Hợp đồng thế chấp tài sản số 19.0093.0044/2019/IIDBĐ/NHCT262 ký ngày 26/9/2019, giữa Ngân hàng và ông Ngô Văn N là vô hiệu như quyết định của bản án sơ thẩm và cũng chưa c cơ sở để chấp nhận hợp đồng có hiệu lực pháp luật như nội dung kháng nghị.

Ngoài các vi phạm như đ nêu trên, bản án sơ thẩm còn c vi phạm nghiêm trọng nhưng không bị kháng nghị và kháng cáo, cụ thể:

Ngày 25/9/2020, Ngân hàng và Chi nhánh Công ty O tại Vĩnh Phúc có ký Hợp đồng cho vay hạn m c số: 87.0095/2020 HĐCVHM/NHCT262 - O để cho Công ty O vay theo hạn m c số tiền 5,3 tỷ đồng. Th i hạn vay cụ thể ghi trên t ng giấy nhận nợ nhưng tối đa không vượt quá 06 tháng theo Hợp đồng cho vay hạn m c đ ký. T ngày 01/10/2020 đến ngày 05/3/2021, Ngân hàng đ giải ngân cho Công ty O vay toàn bộ số tiền ghi trong hợp đồng tín dụng trên. Hợp đồng cho vay hạn m c số: 87.0095/2020 HĐCVHM/NHC1262 - O giữa Ngân hàng và Công ty O được giao kết hợp pháp, có hiệu lực pháp luật và các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối v i nhau theo cam kết. Để đảm bảo khoản vay của công ty O, bên th ba đ thế chấp ba tài sản theo các hợp đồng sau:

- Hợp đồng thế chấp tài sản số: 19.0093.0044/2019/HĐBĐ/NHCT262 ngày 26/09/2019. Tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất thửa đất số 441, diện tích 34,8 m2 , t bản đồ số: 7H – III – 25 tọa lạc tại số 15/87 ngõ Văn Hương, phư ng Hàng Bột, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội cùng toàn bộ các tài sản xây dựng gắn liến v i đất.Theo giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền v i đất số: CS 898971, số vào s cấp GCN: CS 36704, do Sở tài nguyên và môi trư ng thành phố Hà Nội cấp ngày 29/08/2019 đ ng tên ông Ngô Văn T1 được công ch ng tại Văn phòng công ch ng Lạc Việt, theo số công ch ng: 4754.2019, quyển số: 02 TP/CC – SCC/HĐGD ngày 19/8/2019.

- Hợp đồng thế chấp tài sản số: 19.0093.0035/2019/HĐBĐ/NHCT262 ký ngày 04/09/2019. Tài sản đảm bảo là quyền sử dụng thửa đất số 291, diện tích 189m2, t bản đồ số 5 tọa lại tại thôn T, xã T, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Theo Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số: B 960646 do Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Lạc (nay là Ủy ban nhân dân huyện Yên Lạc) cấp ngày 05/12/1992, số vào s cấp GCN số: 1997QSDĐ/92, đ ng tên ông Ngô Văn N (gọi tắt là thửa đất 291) được công ch ng tại Văn phòng công ch ng Phạm Dương Đúng (cũ) nay là Văn phòng công ch ng L theo số công ch ng: 1130, quyển số: 01/2019/TP/CC – SCC/HĐGD ngày 04/9/2019.

- Hợp đồng thế chấp tài sản số: 19.0093.0056/2019/HĐBĐ/NHCT262 ngày 12/11/2019 (Riêng hợp đồng này chưa được Tòa án cấp sơ thẩm làm rõ c còn liên quan đến hợp đồng tín dụng và các khoản nợ đang khởi kiện hay không? Quyền và nghĩa vụ của ngân hàng và ngư i thế chấp như thế nào đối v i khoản nợ chưa trả).

Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty O m i trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và l i tính đến ngày 26/9/2021 gồm: Nợ gốc là 2.304.000.000đ và tiền lãi là 218.709.230 đồng, số tiền nợ gốc còn lại là 3.846.000.000đ Công ty O chưa trả cho Ngân hàng, nên ngày 19/10/2021, Ngân hàng đ khởi kiện đến TAND huyện Yên Lạc. Trong th i gian chuẩn bị xét xử ngày 15/9/2022, Ngân hàng có đơn sửa đ i, b sung, rút một phần yêu cầu khởi kiện đối v i yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo tại Hợp đồng thế

chấp tài sản số 19.0093.0044/2019/ĐBĐ/NHCT262 ký ngày 26/9/2019 là quyền sử dụng đất thửa đất số 441 theo giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất đ ng tên ông Ngô Văn T1 đồng th i xin rút yêu cầu Công ty O trả nợ đối v i số tiền tương ng v i nghĩa vụ được bảo đảm bằng tài sản theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 19.0093.0044/2019/IDBĐ/NHCT262 ký ngày 26/9/2019 đối v i số tiền nợ gốc và tiền l i phát sinh tính đến ngày 26/9/2021 là 1.076.388.271đ trong khi khoản nợ này Công ty O cùng bên th ba là ông Ngô Văn T1 chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối v i số tiền dư nợ nêu trên.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án không làm việc được v i đại diện theo pháp luật của Công ty O do không triệu tập được. Nội dung của hợp đồng cho vay hạn m c nêu trên không có thỏa thuận về hạn m c t ng phần đối v i t ng tài sản bảo đảm nên khi Ngân hàng khởi kiện thì Tòa án phải xem xét, giải quyết đối v i toàn bộ nội dung Hợp đồng tín dụng. Việc Ngân hàng tự ý rút một phần nợ gốc tương ng v i nghĩa vụ tài sản đảm bảo như nêu trên là không c căn c , vi phạm các điều khoản đ ký kết trong Hợp đồng cho vay hạn m c và ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng. Khi xét xử vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét kỹ Hợp đồng cho vay hạn m c cùng các quy định của pháp luật để đánh giá việc rút nghĩa vụ trả nợ tương ng v i nghĩa vụ được bảo đảm bằng tài sản theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 19.0093.0044/2019/IDBĐ/NHCT262 ký ngày 26/9/2019 của Ngân hàng đ đảm bảo c căn c theo quy định của pháp luật chưa mà đ chấp nhận yêu cầu rút một phần nợ gốc của Ngân hàng và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện là không có căn c vì ba hợp đồng thế chấp tài sản đều để đảm bảo cho một khoản nợ. Hợp đồng cho vay hạn m c không thỏa thuận tài sản thế chấp nào c nghĩa vụ bảo lãnh tương ng cho số tiền gốc bao nhiêu. Tòa án cấp sơ thẩm phải giải quyết toàn bộ về nợ của hợp đồng và các tài sản thế chấp để đảm bảo việc thu hồi nợ. Bản án số 05/2023/KDTM-ST ngày 05/10/2023 đ quyết định đình chỉ xét xử đối v i phần Ngân hàng xin rút yêu cầu đòi số tiền nợ gốc và l i phát sinh tương ng v i nghĩa vụ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thửa đất số 441 theo giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất đ ng tên ông Ngô Văn T1 và giải quyết hậu quả của việc đình chỉ là Ngân hàng được quyền khởi kiện lại đối v i yêu cầu xin rút là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của Ngân hàng và kh khăn trong việc Ngân hàng thu hồi nợ đối v i số tiền nợ gốc là 1.076.388.271đ cùng khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc này. Điều luật quy định:

“1. Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại … điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này …”.

Điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự quy định:

“1. Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây:

…

c. Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện …”

Không thể tách ra để giải quyết một phần nợ của Hợp đồng cho vay hạn m c, bởi toàn bộ số nợ của hợp đồng đ vi phạm th i hạn trả nợ, nếu chỉ giải quyết một phần sẽ gây thiệt hại cho quyền lợi của ngân hàng, tài sản Nhà nư c. Hơn nữa, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì nợ được thu hồi trên cơ sở quyết định của bản án, Hợp đồng cho vay hạn m c không còn hiệu lực nữa.

V i vi phạm nêu trên của bản án sơ thẩm, tại phiên tòa phúc thẩm không thể khắc phục được, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng nghị, hủy Bản án sơ thẩm số 05/2023/KDTM-ST ngày 05/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc giải quyết lại vụ án.

Về nội dung kháng cáo của Ngân hàng TMCP C, Hội đồng xét xử xét thấy: Nội dung kháng cáo giống nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nên được xem xét khi giải quyết lại vụ án tại cấp sơ thẩm.

Về án phí kinh doanh thương mại: Án phí sơ thẩm sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án. Do bản án bị hủy nên các đương sự không chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c vào khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, xử:

1. Hủy Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2023/KDTM-ST ngày 05 tháng 10 năm 2023 Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Án phí sơ thẩm sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án.

3. Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Các đương sự không chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả Ngân hàng TMCP C 2.000.000đ (hai triệu đồng) tạm ng án phí phúc thẩm đ nộp theo Biên lai thu số 0003010 ngày 18/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên lac, tỉnh Vĩnh Phúc.

4. Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án.

Cỡ chữ