- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn T phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2024/HSST Ngày: 08-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI-THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thụy Đang Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Thanh Dũng
2. Bà Trần Thị Minh Hiền
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phục Hưng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Lư - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 44/2023/HSST ngày 26 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Văn T, sinh ngày 27/02/1983. Nơi cư trú: ấp Mỹ Thuận, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ; Chỗ ở: ấp Mỹ Thuận, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Văn M và bà Lữ Thị L; Có vợ (đã ly hôn) và 02 con (lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2016); Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/9/2023 đến nay (bị cáo có mặt).
Bị hại: Anh Võ Văn H, sinh năm 1973 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: KV Bình Thuận, phường Trường Lạc, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ, ngày 13/9/2023 Phạm Văn T đến nhà trọ của Phạm Văn T1 thuộc ấp Thị Tứ, xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ để uống rượu. Tại đây, T1 rủ T đi trộm mít bán lấy tiền tiêu xài, thì T đồng ý. T1 điều khiển xe (chưa rõ nhãn hiệu) chạy trước, T điều khiển xe biển số 67L6 - 3458 chạy theo sau, chạy theo lộ vòng cung đến đoạn ngã 4 tư tỉnh lộ 922 khu vực phường Trường Lạc, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ, rồi cả hai chạy về hướng huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ. Khi đến vườn mít của anh Võ Văn H thuộc ấp Định Hòa A, xã Định Môn, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ, lúc này khoảng 20 giờ thì T1 dừng xe lại dùng kềm cắt dây chì gai chui vào vườn trộm mít. Khi cắt trộm được 18 trái mít, T1 đưa ra hàng rào cho T bỏ vào giỏ xách mỗi bên giỏ 04 trái, thì anh H phát hiện, T chạy về hướng Trường Lạc thì bị người dân bắt giữ, còn T1 chạy thoát.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 531/KL-HĐĐG ngày 18/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện Thới Lai, kết luận: 01(một) trái mít kem loại 01, cân nặng 09 kg x 40.000đ/kg = 360.000 đồng; 09 (chín) trái mít kem loại 02, cân nặng 68,1 kg x 30.000 đ/kg = 2.043.000 đồng; 07 (bảy) trái mít kem loại 03, cân nặng 41,6 kg x11.000 đ/kg =457.000 đồng. Tổng số tiền 2.860.600 đồng (Hai triệu tám trăm sáu mươi ngàn sáu trăm đồng).
Bản Cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 26/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai truy tố Phạm Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo T thừa nhận hành vi đúng như cáo trạng đã truy tố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố, đề nghị xét xử bị cáo Phạm Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, bị cáo T không có tình tiết tăng nặng, áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015; Đề nghị xử phạt bị cáo T mức án từ 06 (sáu) đến 12 (mười hai) tháng tù. Về các vật chứng được thu giữ, đề nghị tịch thu sung công 01 (một) xe máy hiệu Repsol, biển số 67L6 – 3458 đã qua sử dụng, không xác định chất lượng còn lại; Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) cây dao Thái Lan cán màu vàng đã qua sử dụng, không xác định chất lượng còn lại, 01(một) cây kềm hiệu DFJ màu đỏ đen đã qua sử dụng, không xác định chất lượng còn lại, 02 (hai) giỏ xách bằng nhựa sọc ca rô đỏ - đen đã qua sử dụng, không xác định chất lượng còn lại, 01(một) cái giá đỡ tự chế bằng kim loại đã qua sử dụng, không xác định chất lượng còn lại; Trả cho bị cáo: 01(một) điện thoại di động hiệu Itel đã qua sử dụng, không xác định chất lượng còn lại.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thới Lai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo có quen biết với Phạm Văn T1, T1 rủ bị cáo đi trộm mít thì bị cáo đồng ý. Khoảng 20 giờ, ngày 13/9/2023, T1 điều khiển xe (chưa rõ nhãn hiệu), bị cáo điều khiển xe biển số 67L6 – 3458, cả hai chạy theo lộ vòng cung đến vườn mít của anh Võ Văn H thuộc ấp Định Hòa A, xã Định Môn, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ thì T1 dừng xe, dùng kềm cắt dây chì gai vào vườn cắt trộm được 18 trái mít, T1 đưa qua hàng rào cho bị cáo bỏ vào giỏ xách mỗi bên giỏ 04 trái, thì bị anh H phát hiện, bị cáo T bỏ chạy thì bị bắt giữ, còn T1 chạy thoát.
Theo định giá thì 18 trái mít (có 01 trái bị hư) có giá trị là 2.860.000 đồng. Hành vi lén lút lấy tài sản của người khác của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh trên là có căn cứ, không oan sai.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo không lao động chân chính để tạo ra thu nhập mà lại muốn có tiền tiêu xài và trả nợ nên đã phạm tội trộm cắp. Cần có mức án phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung. Mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
Về giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bị hại anh H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công 01 (một) xe máy hiệu Repsol, biển số 67L6 – 3458 đã qua sử dụng, không xác định chất lượng còn lại do được sử dụng làm phương tiện phạm tội.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) cây dao Thái Lan cán màu vàng đã qua sử dụng, không xác định chất lượng còn lại, 01(một) cây kềm hiệu DFJ màu đỏ đen đã qua sử dụng, không xác định chất lượng còn lại, 02 (hai) giỏ xách bằng nhựa sọc ca rô đỏ - đen đã qua sử dụng, không xác định chất lượng còn lại, 01(một) cái giá đỡ tự chế bằng kim loại đã qua sử dụng, không xác định chất lượng còn lại do không có giá trị sử dụng.
Trả cho bị cáo: 01(một) điện thoại di động hiệu Itel đã qua sử dụng, không xác định chất lượng còn lại do không có liên quan đến hành vi phạm tội.
Đối với Phạm Văn T1 có hành vi rủ rê, cùng thực hiện hành vi trộm cắp mít của ông Hiền với bị cáo T. Hiện T1 đã bỏ trốn, chưa điều tra, làm rõ hành vi, vai trò của T1 trong vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Lai tách vụ án để tiếp tục điều tra, xử lý là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 14/9/2023.
Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công 01 (một) xe máy hiệu Repsol, biển số 67L6 – 3458 đã qua sử dụng, không xác định chất lượng còn lại.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) cây dao Thái Lan cán màu vàng đã qua sử dụng, không xác định chất lượng còn lại; 01(một) cây kềm hiệu DFJ màu đỏ đen đã qua sử dụng, không xác định chất lượng còn lại; 02 (hai) giỏ xách bằng nhựa sọc ca rô đỏ - đen đã qua sử dụng, không xác định chất lượng còn lại; 01(một) cái giá đỡ tự chế bằng kim loại đã qua sử dụng, không xác định chất lượng còn lại.
Trả cho bị cáo: 01(một) điện thoại di động hiệu Itel đã qua sử dụng, không xác định chất lượng còn lại.
Về án phí: Bị cáo Phạm Văn T được miễn nộp án phí do thuộc hộ cận nghèo.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Thới Lai; - NTG CA huyện Thới Lai; - Bị cáo; - Những người TGT khác; - Lưu hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thụy Đang Phượng |