vanban.org

Bản án 04/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau Tuyên án 02/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái quần sọt Jearn màu xanh - trắng. Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng vào lúc 14 giờ 30 phút, ngày 09/01/2024.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC HIỂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HSST
Ngày 02 - 02 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phước.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Thanh Tâm.

Nghề nghiệp, chức vụ: Phó trưởng Phòng giáo dục và đào tạo huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

2. Bà Bùi Ngọc Dung.

Nghề nghiệp, chức vụ: Cán bộ hưu trí - Bí thư Chi bộ khóm 4, thị trấn Rạch Gốc, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thành Thật là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Thái Hoàng Chân - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 49/2023/TLST-HS, ngày 29 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST-HS, ngày 18 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Tâm A (tên gọi khác: Đ), sinh ngày 10 tháng 8 năm 2004, tại tỉnh C; nơi cư trú: Ấp S, xã V, huyện N, tỉnh C; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng S và bà Nguyễn Nhung C; có 01 tiền án: Năm 2022, bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh C phạt 04 (bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; bị cáo bị tạm giam từ ngày 28/10/2023 cho đến nay (có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa của bị cáo: Ông Trần Hoàng V là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C (có mặt).

- Bị hại: Cao Trọng N, sinh năm 2008 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp V, xã V, huyện N, tỉnh C.

- Người đại diện hợp pháp (giám hộ) của bị hại: Ông Cao Hoàng S, sinh năm 1979 là cha ruột bị hại (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp X, xã V, huyện N, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 15/10/2023, tại ấp A, xã V, huyện N, tỉnh C, Nguyễn Tâm A có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) xe máy hiệu Sirius màu đỏ - đen, biển kiểm soát 69-E1 047.97 và 01 (một) áo mưa màu xanh của Cao Trọng N. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 7.050.000 đồng. Quá trình điều tra, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐ, ngày 27 tháng 10 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản xác định: 01 (một) xe máy hiệu Sirius màu đỏ - đen, biển kiểm soát 69-E1 047.97 (đã qua sử dụng) có giá trị là 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng); 01 (một) áo mưa màu xanh (đã mất) có giá trị là 50.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hiển đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tâm A từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù. Không yêu cầu xử lý về trách nhiệm dân sự. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) cái quần sọt Jearn màu xanh - trắng.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Người bào chữa cho bị cáo cho rằng bị cáo có trình độ nhận thức pháp luật kém (học lớp 1), mặc dù đã bị xử lý trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có làm đơn bãi nại cho bị cáo. Không yêu cầu tiếp tục bồi thường cái áo mưa đã bị mất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ngọc Hiển, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hiển, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

[2]. Bị cáo khai nhận vào ngày 15/10/2023 có chiếm đoạt 01 (một) xe máy hiệu Sirius màu đỏ - đen, biển kiểm soát 69-E1 047.97 và 01 (một) áo mưa màu xanh của Cao Trọng N tại ấp V, xã V, huyện N, tỉnh C. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt với tổng số tiền là 7.050.000 đồng. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã xâm hại quyền sở hữu tài sản của người khác, đã vi phạm pháp luật hình sự.

[3]. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận có thực hiện hành vi như đã nêu trên, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, phù hợp với kết luận giám định, định giá tài sản và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự thì hành vi của bị cáo Nguyễn Tâm A đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Qua phân tích, chứng tỏ lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên có cơ sở để chấp nhận.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự pháp chế xã hội chủ nghĩa, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị trật tự an toàn xã hội của địa phương.

Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đã đủ 18 tuổi, hoạt động nhận thức bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham, muốn có tiền để tiêu sài mà không phải lao động chân chính nên đã chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Hậu quả xảy ra cũng là xuất phát từ hành vi, ý chí mong muốn của bị cáo.

[4]. Về nhân thân, bị cáo có nhân thân xấu, năm 2022 bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh C phạt 04 (bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Mặc dù đã từng bị Toà án nhân dân huyện N xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không biết hướng thiện, tìm việc làm phụ giúp gia đình, với bản tính ham chơi, lười lao động, bị cáo lại thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu cá nhân.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại xác định tài sản bị mất là áo mưa để trên xe, qua định giá tài sản có giá trị là 50.000 đồng, tuy nhiên bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra xử lý là phù hợp.

[6]. Vật chứng vụ án thu giữ gồm: 01 (một) xe máy hiệu Sirius màu đỏ - đen, biển kiểm soát 69-E1 047.97 (đã qua sử dụng), quá trình điều tra đã trả lại cho bị hại, tài sản không bị hư hỏng nên bị hại không có yêu cầu xét thấy là phù hợp nên không đặt ra xử lý.

Đối với 01 (một) cái quần sọt Jearn màu xanh - trắng là tài sản không liên quan đến vụ án, tài sản này là của bị cáo mặc trong khi thực hiện hành vi lấy trộm xe của bị hại, bị cáo không có yêu cầu nhận lại. Xét thấy tài sản không còn giá trị sử dụng nên cần thiết tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.

[7]. Qua phân tích và nhận định như trên, cho thấy quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng có căn cứ để chấp nhận.

[8]. Tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo thống nhất với quan điểm xử lý vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử không đặt ra xử lý.

[9]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Tâm A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tâm A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Phạt bị cáo Nguyễn Tâm A 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/10/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái quần sọt Jearn màu xanh - trắng.

Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng vào lúc 14 giờ 30 phút, ngày 09/01/2024.

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Tâm A phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ