- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn H phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA B TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2024/HS – ST Ngày 22/01/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA B – TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thanh Nhiến và bà Nguyễn Thị Lan
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Thương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa B.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa B tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Minh– Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 152/2023/TLST – HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXST – HS ngày 05 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Văn H, sinh ngày 02/9/1996 tại Hòa Bình
Nơi cư trú: Xóm Ch, xã Mỹ Th, huyện Lạc S, tỉnh Hòa Bình; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: Không; Con ông: Bùi Văn H, sinh năm 1969 và bà Quách Thị S, sinh năm 1968; Có vợ là Bùi Thị Ng, sinh năm 1996 (đã ly hôn); chưa có con.
Tiền án, Tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 27/10/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Lạc S, tỉnh Hòa Bình xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 21 tháng, tính từ ngày 19/7/2023. Hiện bị cáo đang chấp hành quyết định tại Cơ sở cai nghện ma túy số 2, tỉnh Hòa Bình. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
1. Anh Bùi Văn D, sinh năm 1997; Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Xóm C 2, xã Vũ B, huyện lạc S, tỉnh Hòa Bình
2. Chị Bùi Thị Nh, sinh năm 1987; Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Xóm L, xã Xuân Th, huyện Kim B, tỉnh Hòa Bình
3. Anh Bùi Anh Q, sinh năm 1995; Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Xóm Rú M, xã Hợp Ph, huyện Cao Ph, tỉnh Hòa Bình
4. Chị Bùi Thị Th, sinh năm 1967; Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Xóm Tre B, xã Miền Đ, huyện Lạc S, tỉnh Hòa Bình
5. Chị Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1984; Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Xóm Tân Th, xã Nhân M, huyện Tân L, tỉnh Hòa Bình
6. Anh Bùi Văn L, sinh năm 1985; Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Xóm L, xã Xuân Th, huyện Kim B, tỉnh Hòa Bình
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn L, sinh năm 1992; Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Số 38, Tổ 18, phường Phường L, thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình
2. Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1969; Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Tổ 14, phường Đồng T, thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình
3. Chị Trần Lệ X, sinh năm 1990; Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ 14, phường Đồng T, thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình
4. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ 2, phường Đồng T, thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn H là đối tượng nghiện chất ma túy. Thời gian từ ngày 10/7 đến ngày 18/7/2023, trong quá trình chăm sóc bố đang điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình, bị cáo đã thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 4 giờ ngày 10/7/2023 Bùi Văn H đi bộ xung quan nhà B8 Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình tìm sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến phòng 302, nhà B8, H phát hiện thấy đầu giường bệnh anh Bùi Anh Q đang nằm ngủ, trên giường để chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9 (2020) màu xanh, quan sát xung quanh thấy mọi người đang ngủ nên đã đi vào cầm chiếc điện thoại cho vào túi quần. Sau đó H mang đến cửa hàng điện thoại thanh H bán cho chị Trần Lệ X (chủ cửa hàng), với giá: 1.500.000 đồng. Số tiền này bị cáo đã mua ma túy và chơi game hết.
Vụ thứ hai: Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 11/7/2023 Bùi Văn H đến phòng bệnh số 4, tầng 5, nhà B7 Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình. H phát hiện thấy trên giường bệnh đầu tiên bên trái có chị Bùi Thị Nh đang nằm ngủ, bên cạnh để chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y20, màu xanh lam và giường bệnh bên cạnh có anh Bùi Văn L (là chồng chị Nh) đang nằm ngủ, bên cạnh để chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đỏ, nên H đã lấy 02 chiếc điện thoại mang đến cửa hàng điện thoại Tiến X bán cho anh Nguyễn Văn G (là chủ cửa hàng), với giá 500.000 đồng. Số tiền này bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết.
Vụ thứ ba: Khoảng 4 giờ ngày 14/7/2023 Bùi Văn H đến phòng 317, nhà B7 Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình, thấy bên cạnh anh Nguyễn Văn T có chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A03S, màu đen của chị Nguyễn Thị Ph (vợ anh T) nằm ngủ dưới sàn, quan sát xung quanh thấy mọi người đều nằm ngủ, không ai để ý, H lấy chiếc điện thoại, sau đó mang đến cửa hàng điện thoại H H bán cho chị Nguyễn Thị H (chủ cửa hàng), với giá 800.000 đồng. Số tiền này H đã chi tiêu cá nhân hết.
Vụ thứ tư: Khoảng 4 giờ ngày 17/7/2023 Bùi Văn H đến phòng 408, nhà B7 Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình,phát hiện bà Bùi Thị Th đang nằm ngủ, bên cạnh có để chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mezu M6, màu xanh, bị vỡ màn hình, H lấy điện thoại. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày H ra cổng Bệnh viện gọi xe ôm của một người không biết chở H đến quán Game, do không có tiền trả xe nên H đã đưa chiếc điện thoại cho người đàn ông lái xe ôm để trừ vào tiền xe ôm.
Vụ thứ năm: Khoảng 4 giờ ngày 18/7/2023 Bùi Văn H đến cửa phòng 504, nhà B8 Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình, phát hiện dưới sàn ở giữa phòng có anh Bùi Văn D nằm ngủ, bên cạnh có để chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7X, màu xanh đen, xung quanh mọi người nằm ngủ nên H đã lấy trộm chiếc điện mang đến của hành điện thoại L H bán cho anh Nguyễn L, với giá 170.000 đồng. Số tiền này H đã chi tiêu cá nhân hết. Đến ngày 19/7/2023 Bùi Văn H bị Bảo vệ Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình lập biên bản giao cho Công an phường Đồng T, thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số:146/KL-HĐĐGTS ngày 26/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hòa B kết luận: "01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7X, màu xanh đen, trị giá 2.300.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9 (2020), màu xanh, trị giá 2.000.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A35, màu đỏ, trị giá 450.000 đồng. Tổng trị giá 4.750.000đ (bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 240/KL- HDĐGTS ngày 20/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hòa B kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y20, màu xanh lam, trị giá 1.500.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A03S, màu đen, trị giá 1.200.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Meizu M6, màu xanh, bị vỡ màn hình, trị giá 400.000 đồng. Tổng trị giá: 3.100.000đ (ba triệu một trăm nghìn đồng).
Cáo trạng số: 151/CT-VKSTPHB ngày 29/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình đã truy tố Bùi Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa B luận tội đối với bị cáo Bùi Văn H vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng, đồng thời phân tích các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn H mức án từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Văn H.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại anh Bùi Anh Q, anh Bùi Văn D, anh Bùi Văn L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo.
Bị hại chị Nguyễn Thị Ph và chị Bùi Thị Th và chị Bùi Thị Nh chưa nhận lại tài sản, nhưng cũng không có yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại bằng giá trị tài sản đã mất, nên không đề cập.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn L, anh Nguyễn Văn G, chị Trần Lệ X và chị Nguyễn Thị H, không yêu cầu gì về bồi thường nên không xem xét.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Truy thu bị cáo Bùi Văn H, số tiền 2.970.000 đồng tiền bị cáo thu lời bất chính mà có để sung quỹ nhà nước.
Bị hại anh Bùi Anh Q, anh Bùi Văn D, chị Bùi Thị Nh, anh Bùi Văn L, chị Nguyễn Thị Ph, chị Bùi Thị Th không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về trách nhiệm dân sự. Về hình phạt bị hại đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn L khai mua chiếc điện thoại OPPO A7X với giá 170.000 đồng, anh Nguyễn Văn G mua chiếc điện thoại ViVO giá 400.000 đồng và chiếc điện thoại OPPO A35 màu đỏ, giá 100.000 đồng, chị Trần Lệ X mua chiếc điện thoại OPPO A9 (2020) giá 1.500.000 đồng, chị Nguyễn Thị H mua chiếc điện thoại Sam Sung A03S với giá 800.000 đồng của bị cáo Bùi Văn H. Khi mua không biết tài sản đó là do bị cáo phạm tội mà có. Anh L, anh G, chị X, chị H không có yêu cầu, đề nghị gì đối với bị cáo Bùi Văn H.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, lời nói sau cùng của bị cáo, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hòa B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng họ đều có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn H đều khai nhận: Do không có tiền để chi tiêu cá nhân và mua ma túy để sử dụng. Trong khoảng thời gian, từ ngày 10/7 đến ngày 18/7/2023 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình, bị cáo đã thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể: Anh Bùi Anh Q một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9 (2020) màu xanh; trị giá: 2.000.000 đồng; chị Bùi Thị Nh một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y20, màu xanh lam, trị giá 1.500.000đồng; anh Bùi Văn L một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A35, trị giá 450.000 đồng; chị Nguyễn Thị Ph một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A03S, màu đen, trị giá:1.200.000 đồng; chị Bùi Thị Th một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Meizu M6, trị giá 400.000 đồng; anh Bùi Văn D một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7X, trị giá 2.300.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 7.850.000đ (bảy triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).
Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại; vật chứng thu giữ; kết qủa định giá tài sản cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Trong khoảng thời gian ngắn từ ngày 10/7 đến ngày 18/7/2023 bị cáo đã thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản, trong đó có 02 lần giá trị tài sản trên 2 triệu đồng. Đây là tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngày 27/10/2023 Bùi Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Lạc S, tỉnh Hòa Bình xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 2, tỉnh Hòa Bình, thời hạn 21 tháng. Do đó cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Đối với anh Nguyễn L, anh Nguyễn Văn G, chị Trần Lệ X, chị Nguyễn Thị H là người đã mua điện thoại của bị cáo Bùi Văn H. Tuy nhiên khi mua những người này không biết là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Gia đình bị cáo là hộ cận nghèo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy không có nghề nghiệp và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại anh Bùi Anh Q đã nhận lại tài sản một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9 (2020); anh Bùi Văn L một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A35; anh Bùi Văn D một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7X. Anh Q, anh L, anh D không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập.
Còn 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu ViVO Y20 của chị Bùi Thị Nh, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A03S của chị Nguyễn Thị Ph và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mezu M6 của chị Bùi Thị Th, không thu hồi được. Chị Nh, chị Ph, chị Th không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bằng giá trị tài sản đã bị chiếm đoạt nên không xét.
Đối với anh Nguyễn L mua điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7X giá 170.000 đồng, anh Nguyễn Văn G mua điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y20 giá 400.000 đồng và điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A35 giá 100.000 đồng, chị Trần Lệ X mua điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9 giá 1.500.000 đồng, chị Nguyễn Thị H mua điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A03S, giá 800.000 đồng. Anh L, anh G, chị X, chị H không yêu cầu bị cáo Bùi Văn H phải hoàn trả lại nên không đề cập.
Đối với số tiền 2.970.000 đồng bị cáo đã thu lời bất chính do phạm tội mà có. Hội đồng xét xử tuyên truy thu sung quỹ nhà nước.
Về án phí: Bị cáo Bùi Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luât.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
2. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản".
3. Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Truy thu bị cáo Bùi Văn H số tiền: 2.970.000đ (Hai triệu chín trăm bảy mươi nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Bùi Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình - VKSND Tp Hòa B - Công an Tp Hòa B - Sở tư pháp tỉnh Hòa Bình - Bị cáo - Bị hại - Người liên quan - THADS Tp Hòa B - Lưu hồ sơ vụ án | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Đã ký Bùi Thị Hiền |