- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH THÀNH PHỐ CẦN THƠ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2024/HS-ST Ngày 01/02/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Sáu;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đinh Đắc Tư;
2. Bà Đào Thị Ánh Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thạch – Thư ký tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thanh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn B, sinh năm: 1996; Nơi sinh: C-An Giang; Nơi thường trú: Khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 00/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn K, không xác định năm sinh (đã chết) và bà Nguyễn Thị H-1971 (sống); A, chị, em ruột: Có 01 người chị ruột sinh năm 1993; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/10/2023 đến nay. Có mặt.
Người làm chứng:
- Bà Lê Thị Thùy D-1986-vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 31/10/2023, B đón xe hon da ôm đi từ nhà thuộc ấp H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang đến Kênh A, thuộc ấp V, xã V để mua ma túy sử dụng. Khi đến Kênh A, B đi vào trong gặp một người phụ nữ tên Thùy D hỏi mua ma túy với số tiền 100.000 đồng. Sau đó, B cầm gói ma túy đi bộ đến cầu B, thuộc ấp V lấy gói ma túy ra sử dụng một phần, phần còn lại Bé cất giấu trong gói thuốc lá hiệu Hero rồi bỏ vào trong vai áo bên phải, Bé tiếp tục đi bộ qua cầu B thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện cùng tang vật. Ngoài ra, B còn khai nhận bắt đầu sử dụng ma túy vào khoảng tháng 10/2022, để có ma túy sử dụng, B đã đến Kênh 14 mua của Thùy D được khoảng 07-08 lần, mỗi lần từ 100.000 đồng đến 150.000 đồng và đã sử dụng hết.
Căn cứ Bản Kết luận giám định số 342/KL-KTHS ngày 07/11/2023 của Phòng K1
- Công an thành phố C kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng trong gói giấy bạc gửi giám định là ma túy, loại Heroin, khối lượng 0,1255 gam.
Đối với người đã bán ma túy cho B, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho nhận dạng qua ảnh, xác định có họ tên thật là Lê Thị Thùy D-1986, thường trú tại Kênh A, ấp V, xã V, huyện V. Ngày 23/11/2023, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà của D và thu giữ nhiều tang vật có liên quan đến ma túy. Ngày 02/12/2023, Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Lê Thị Thùy D cùng đồng bọn về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, hiện D đang được tiếp tục điều tra làm rõ trong vụ án khác.
Tại cáo trạng số 04/CT-VKSVT ngày 03/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thống nhất với nội dung cáo trạng và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, không bổ sung gì thêm, đồng thời đề nghị:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo do không có nghề nghiệp ổn định.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,0809 gam được niêm phong số 342/KL-KTHS ngày 07/11/2023 có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K1, Công an thành phố C và chữ ký các bộ niêm phong Đào Thị Thủy T, từ kho vật chứng thuộc Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an huyện V đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh.
Về vấn đề khác: Đối với Lê Thị Thùy D bán ma túy cho bị cáo B. Ngày 02/12/2023, Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Lê Thị Thùy D cùng đồng bọn về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, hiện D đang được tiếp tục điều tra làm rõ trong vụ án khác nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng họ đã có lời khai trong quá trình điều tra, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tội danh: Trong quá trình điều tra và qua thẩm tra, đối chất tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của người làm chứng. Như vậy, có cơ sở xác định vào sáng ngày 31/10/2023, bị cáo đến Kênh A, ấp V, xã V, huyện V để mua ma túy của người phụ nữ tên Thùy D với số tiền 100.000 đồng, sau khi mua xong bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Bản Kết luận giám định số 342/KL-KTHS ngày 07/11/2023 của Phòng K1 - Công an thành phố C kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng trong gói giấy bạc gửi giám định là ma túy, loại Heroin, khối lượng 0,1255 gam. Hành vi của bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, việc đưa ra truy tố và xét xử bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội.
Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Xét bị cáo là thanh niên đã trưởng thành, có sức khỏe và khả năng lao động nhưng bị cáo không biết tu dưỡng, rèn luyện bản thân sống có ích cho gia đình và xã hội, mà lại nghiện ma túy, tàng trữ ma túy để sử dụng. Bị cáo thừa biết ma túy là chất gây nghiện, người sử dụng ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất, tinh thần, là nguyên nhân của các tội phạm khác như trộm cắp, cướp giật tài sản,...Vì vậy, Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, vận chuyển, tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy, nhằm tạo môi trường sống, học tập, lao động lành mạnh cho công dân và xã hội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh để răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Do đó, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa có tiền án, tiền sự; hoàn cảnh gia đình khó khăn; không biết chữ nên nhận thức pháp luật còn hạn chế nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo do không có nghề nghiệp ổn định.
Về xử lý vật chứng và về vấn đề khác: Theo như nhận định và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải nộp án phí theo quy định.
Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 31/10/2023.
Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,0809 gam được niêm phong số 342/KL-KTHS ngày 07/11/2023 có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K1, Công an thành phố C và chữ ký các bộ niêm phong Đào Thị Thủy T, từ kho vật chứng thuộc Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an huyện V đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh.
(Vật chứng được lưu giữ tại kho vật chứng thuộc Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh theo Quyết định chuyển vật chứng số 04/QĐ-VKSVT ngày 03/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Cần Thơ; - VKSND thành phố Cần Thơ; - VKSND huyện Vĩnh Thạnh; - CAND huyện Vĩnh Thanh; - Chi cục THADS huyện Vĩnh Thạnh; - Sở Tư pháp thành phố Cần Thơ; - Bị cáo; Người liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Sáu |