vanban.org

Bản án 04/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thạch Thất, TP. Hà Nội Tuyên án 08/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đào Hữu Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đào Hữu Đ 15 (Mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Hữu Đ vi phạm giao thông - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đào Hữu Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TT
THÀNH PHỐ HN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HS-ST
Ngày: 08/01/2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT, THÀNH PHỐ HN.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thiết

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Chiến.

Bà Nguyễn Thị Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Uyến - Thư ký Toà án nhân dân huyện TT, thành phố HN.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TT tham gia phiên toà: Ông Triệu Văn Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TT, thành phố HN mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 182/2023/TLST- HS ngày 21 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2023/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:

Đào Hữu Đ, sinh năm: 1979, tại huyện KC, tỉnh HY. Nơi ĐKHKTT: Tổ 1, phường TH, thành phố HB, tỉnh HB; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Đào Văn T, sinh năm 1948 và bà Lê Thị C, sinh năm 1951; Vợ là: Nguyễn Thị D, sinh năm 1980; và có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2012.

Theo danh bản, chỉ bản số 450 lập ngày 03/11/2023, tại Công an huyện TT thì bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

Bị hại: Chị Lò Thị N, sinh năm 1997 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại là Lò Văn Ê, sinh năm 1958 (bố đẻ), bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1959 (mẹ đẻ), anh Hà Minh T, sinh năm 1994 (chồng). Người đại diện theo ủy quyền của ông Ê, bà T là anh Hà Minh T (Có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Khu Còn 2, xã TN, huyện TS, tỉnh PT.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1977 (Có đơn xin vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ 14, phường TT, thành phố HB, tỉnh HB.

- Người làm chứng:

+ Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1980 (Có đơn xin vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ 1, phường TH, thành phố HB, tỉnh HB.

+ Ông Đỗ Viết H, sinh năm 1979 (vắng mặt);

+ Ông Hoàng Công C, sinh năm 1983 (vắng mặt);

+ Ông Bùi Văn T, sinh năm 1975 (vắng mặt);

Cùng trú tại: Thôn 7, xã TX, huyện TT, Thành phố HN.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 27 phút ngày 18/6/2023 Đào Hữu Đ, điều khiển xe ô tô BKS: 28A- 016.17 chở vợ là chị Nguyễn Thị D (SN: 1980) và con là Đào Bảo C (SN: 2012) cùng trú tại: Tổ 1, phường TH, TPHB, tỉnh HB di chuyển theo hướng HN điHB. Khi đi đến km 3+800 đường Làng Văn hoá thuộc thôn 7, xã TX, huyện TT, thành phố HN, do không chú ý quan sát, không làm chủ được phương tiện dẫn đến xe ô tô BKS: 28A- 016.17 đi lệch khỏi làn đường đã đâm vào chị Lò Thị N (SN: 1997, trú tại: Khu Còn 2, Thu Ngạc, TS, PT) đang đi bộ cùng chiều phía trước ở lề đường bên phải theo hướng đi của bị can Đ.

* Hậu quả:

- Về người: chị Lò Thị N bị thương nặng, được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện TT sau đó tử vong.

- Về tài sản: Xe ô tô BKS: 28A- 016.17 bị hư hỏng nhẹ.

Tang vật thu giữ:

- 01 (một) xe ô tô BKS: 28A- 016.17 nhãn hiệu Huyndai loại i20, số khung: MALBB51CBCM396471, số máy: G4FACU481494.

- 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số: DA 3580385, cấp ngày 22/12/2022, có thời hạn đến 21/12/2023; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số 070016548/22, cấp ngày 13/3/2023, có thời hạn đến 13/3/2024; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 005518, cấp ngày 20/01/2014 của xe ô tô 28A-016.17.

- 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 số: “170058000005” do Sở Giao thông vận tải tỉnh HB cấp ngày 21/02/2023, có giá trị đến ngày 21/02/2033.

- 01 (một) USB bên trong có chứa 02 đoạn video ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ TNGT.

Tài liệu khám nghiệm hiện trƣờng:

- Hiện trường nơi xảy ra vụ TNGT là đường hai chiều, được rải nhựa phẳng thẳng, mặt đường rộng 11m00, giữa đường có vạch sơn kẻ đứt quãng màu vàng phân chia hai chiều đường xe chạy, đo từ tâm vạch sơn đứt quãng tới mép đường bên phải theo chiều HN đi HB được 05m50; bên phải đường theo chiều từ HN hướng đi HB là dải đất có chiều rộng đo được 0m45.

- Xác định điểm mốc là tâm hình chiếu cột mốc Km3 + 800 đường LHV: H8/3.

- Xác định mép đường làm chuẩn là mép đường bên phải theo chiều từ HN hướng đi HB.

* Mô tả dấu vết, phương tiện:

(1) Vùng cây cỏ dập nát được đánh số (1) được hình thành trên dải đất ven đường có chiều dài 18m80, chiều rộng 0m45; đo khoảng cách từ điểm đầu và điểm cuối vùng (1) tới mép đường chuẩn được 0m90 và 01m90; Vùng (1) được hình thành theo chiều từ HN hướng đi HB.

(2) Xe ô tô BKS 28A-016.17 đỗ trên dải đất ven đường, đầu xe hướng HB, đuôi xe hướng HN được đánh số (2); đo khoảng cách từ hình chiếu tâm đầu trục bên trái bánh trước và bánh sau tới mép đường chuẩn lần lượt là 0m20 và 0m20; đo khoảng cách từ hình chiếu tâm đầu trục bên trái bánh sau tới điểm mốc là 06m20; hình chiếu tâm bánh xe phía sau bên phải trùng với điểm cuối vùng (1).

(3) Biển quảng cáo Nhà hàng NT được đặt tại dải đất ven đường được đánh số (3) có kích thước (2,10x0,60x2,40)m; đo khoảng cách từ tâm hình chiếu (3) tới mép đường chuẩn được là 01m90; tâm hình chiếu (3) trùng với hình chiếu tâm đầu trục bên phải bánh trước xe (2).

Tài liệu khám xe ô tô BKS: 28A- 016.17:

- Tại mặt ngoài phía dưới kính chắn gió phía trước sát với cần gạt nước phía trên bên phải có vết nứt vỡ kính trên diện (93x29)cm. Tại vết nứt có bám nhiều lông sợi tóc.

- Tại mặt ngoài kim loại nắp ca pô phía trên có vết móp, lõm kim loại theo chiều hướng từ trước về sau, từ trên xuống dưới có diện (35x26)cm.

- Tại mặt ngoài bên phải ba đờ sốc sát với đèn chiếu sáng phía trước bên phải có vết mài trượt, xước mất sơn màu bạc, bám dính chất màu đen, màu nâu theo chiều hướng từ dưới lên trên, từ phải qua trái trên diện (22x20)cm. Điểm thấp nhất của vết cách mặt đất 45cm.

- Phía dưới ba đờ sốc phía dưới ốp biển số có vết gãy vỡ, mất nhựa, bám dính bụi đất, vết gãy vỡ có diện (54x10)cm.

- Kiểm tra an toàn kỹ thuật của xe:

Do xe bị hư hỏng, mất nguồn điện nên không kiểm tra được an toàn kỹ thuật của xe.

* Tại bản kết luận giám định tử thi số: 4593/KL-KTHS ngày 14/7/2023 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận:

- Nguyên nhân chết của chị Lò Thị N là mất máu cấp do vỡ gan.

- Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương trên cơ thể Lò Thị N do tác động tương hỗ với vật tày gây ra.

- Trong máu không tìm thấy Ethanol (cồn), chất ma túy.

- Đối với xe ô tô BKS: 28A- 016.17, Huyndai loại i20, số khung: MALBB51CBCM396471, số máy: G4FACU481494, đứng tên đăng ký chủ sở hữu mang tên anh Trần Ngọc T (trú tại: Tổ 14, TT, TP HB, HB). Tại cơ quan Công an, anh T khai năm 2014 mua mới và đứng tên đăng ký chiếc xe ô tô trên sử dụng làm phương tiện đi lại. Ngày 17/6/2023, anh T cho Đ mượn xe để đi HN thăm con gái. Đến ngày 18/6/2023, trên đường về HB thì xảy ra tai nạn. Cơ quan điều tra đã trao trả: 01 (một) xe ô tô BKS: 28A- 016.17, 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số: DA 3580385, cấp ngày 22/12/2022, có thời hạn đến 21/12/2023; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số 070016548/22, cấp ngày 13/3/2023, có thời hạn đến 13/3/2024; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 005518, cấp ngày 20/01/2014, của xe ô tô 28A-016.17 cho anh Trần Ngọc T là chủ sở hữu.

- Đối với 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 số: “170058000005” do Sở Giao thông vận tải tỉnh HB cấp ngày 21/02/2023, có giá trị đến ngày 21/02/2033, 01(một) USB chứa 02 đoạn video camera theo hồ sơ vụ án.

- Tiến hành xét nghiệm nồng độ cồn trong máu và xét nghiệm ma túy đối với Đào Hữu Đ. Kết quả trong máu của Đào Hữu Đ không có nồng độ cồn và âm tính với tất cả các loại tiền chất về ma túy.

- Đào Hữu Đ đã xuất trình giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số: “170058000005” do Bộ Giao thông vận tải cấp ngày 21/02/2023, có giá trị đến ngày 21/02/2033 được phép điều khiển ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi, ô tô tải, máy kéo kéo rơmoóc có trọng tải dưới 3500kg và xe hạng B1. Căn cứ giấy đăng ký xe ô tô số: 005518, do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh HB cấp ngày 20/01/2014 thì xe ô tô BKS: 28A- 016.17, Huyndai loại i20, số khung: MALBB51CBCM396471, số máy: G4FACU481494 là loại xe ô tô con, có số chỗ ngồi là 5 nên Đào Hữu Đ được phép điều khiển.

Về dân sự:

- Đào Hữu Đ đã tự nguyện hỗ trợ cho gia đình chị Lò Thị N với tổng số tiền là 230.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi triệu đồng). Gia đình chị Niệm không có yêu cầu đề nghị gì thêm về việc bồi thường dân sự và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đào Hữu Đ.

- Anh Trần Ngọc T không yêu cầu bồi thường gì.

Tại bản cáo trạng số: 174/CT-VKS ngày 13/12/2023, của Viện kiểm sát nhân dân huyện TT, thành phố HN truy tố bị cáo Đào Hữu Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quan điểm truy tố, sau khi phân tích đánh giá hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, các tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đào Hữu Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 xử phạt bị cáo với mức án từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị HĐXX xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến gì với luận tội của kiểm sát, không tranh luận gì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo hiện đang bị bệnh tiểu đường giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có cơ hội làm ăn khắc phục hậu quả phục hồi kinh tế gia đình.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về diễn biến quá trình thực hiện hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và tang vật thu giữ được. Do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:

Bị cáo có giấy phép lái xe hạng B2 được cấp từ năm 2005, có kinh nghiệm, hiểu biết Luật giao thông đường bộ. Ngày 18/6/2023, bị cáo điều khiển xe ô tô BKS: 28A- 016.17 di chuyển trên đường LVH theo hướng HN - HB, đến km 3+800 đường LHV thuộc thôn 7, xã TX, huyện TT, thành phố HN, thấy chị Lò Thị N đang có biểu hiện sang đường, đồng thời có xe sau xin vượt, nhưng bị cáo đã chủ quan không tuân thủ nghiêm các quy tắc điều lệ về trật tự an toàn giao thông, không chú ý quan sát và làm chủ tốc độ nên đã đâm vào chị Lò Thị N đang đi bộ cùng chiều phía trước ở lề đường bên phải, vi phạm khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ và khoản 6, khoản 8 Điều 5 Thông tư 31 của Bộ Giao thông vận tải về “giảm tốc độ” gây hậu quả nghiêm trọng làm chết 01 người.

* Hậu quả:

- Về người: Chị Lò Thị N bị thương nặng, được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện TT sau đó tử vong.

- Về tài sản: Xe ô tô BKS: 28A- 016.17 bị hư hỏng nhẹ.

Với hành vi trên của bị cáo đã thực hiện thì bị cáo đã phạm vào tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, như nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo là hoàn toàn chính xác đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm về an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ. Trong tình hình hiện nay việc đảm bảo an toàn giao thông là vấn đề bức thiết và là nhiệm vụ cấp bách của nhà nước và của toàn xã hội. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết nhằm hạn chế những thiệt hại về người và tài sản và để răn đe giáo dục phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã cùng gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, có nhân thân tốt lần đầu phạm tội. Lỗi một phần do người bị hại có hành vi đi bộ qua đường không đúng quy định “vi phạm khoản 3 Điều 32 Luật giao thông đường bộ”. Đại diện cho gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, có bố và mẹ vợ là người có công với cách mạng, bà Phạm Thị M được Chủ tịch nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, ông Nguyễn Bình T là thương binh hạng 2. Các tình tiết nêu trên được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS 2015.

Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được viện dẫn. Hội đồng xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần thiết phải cách ly xã hội đối với bị cáo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú cùng gia đình quản lý giám sát giáo dục cũng đủ điều kiện để bị cáo rèn luyện sớm trở thành công dân tốt như phân tích đánh giá và đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 thì: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm.

Hội đồng xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định để tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục làm việc tăng thêm thu nhập, khắc phục hậu quả nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo đã tự nguyện hỗ trợ cho gia đình nạn nhân số tiền 230.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu đề nghị gì thêm nên HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe ô tô BKS: 28A- 016.17 nhãn hiệu Huyndai loại i20, 01 Giấy chứng nhận kiểm định số: DA 3580385, cấp ngày 22/12/2022; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số 070016548/22, cấp ngày 13/3/2023; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 005518, cấp ngày 20/01/2014, BKS: 28A- 016.17 cho anh Trần Ngọc Tú là chủ sở hữu nên Hội đồng không đề cập.

Đối với 01(một) USB chứa 02 đoạn video camera trích xuất từ camera của các gia đình tại nơi xẩy ra vụ án, là tài liệu chứng cứ để chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo nên cần được lưu trữ theo hồ sơ vụ án.

Do không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên trả lại 01 giấy phép lái xe hạng B2 số: “170058000005” do Sở Giao thông vận tải tỉnh HB cấp ngày 21/02/2023, cho bị cáo tại phiên tòa.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đào Hữu Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1. Về hình phạt:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt bị cáo Đào Hữu Đ 15 (Mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho UBND phường TH, thành phố HB, tỉnh HB, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Trả lại bị cáo 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số: “170058000005” do Sở Giao thông vận tải tỉnh HB cấp ngày 21/02/2023, tại phiên tòa.

3. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Đào Hữu Đ phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ