- Tranh chấp gì? án hình sự — "VÕ MINH V - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Minh V ph m tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2024/HS-ST Ngày: 16- 01- 2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thượng Trọng Ký
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Thanh Tân.
2. Bà Nguyễn Thị Cẩm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Duy Vinh– Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hồng- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2024, t i tr s T a án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi m phiên t a xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số 04/2023/TLST- HS ngày 17 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 12 năm 2023, Thông báo về việc chuyển ngày xét xử số 18/TB- TA ngày 09/01/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: VÕ MINH VƢƠNG. Tên gọi khác: không; Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1980, t i xã T, huyện S, Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Thợ điện; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Võ H (đã chết) và bà: Đào Thị L (đã chết); Vợ: Đoàn Thị Ánh L1 (đã ly hôn); Con: Võ Đoàn Gia A. Sinh năm: 2010. Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 02 anh chị em
Tiền sự: không có. Tiền án: Chưa;
Bị cáo bị áp d ng biện pháp ngăn chặn t m giam, từ ngày 23 tháng 8 năm 2023 đến nay t i Nhà t m giữ Công an huyện S, có mặt t i phiên t a.
- Bị hại: Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1979 (chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
+ Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1950; Bà Huỳnh Thị C, sinh năm 1954 (là cha mẹ đẻ của ông Nguyễn Hoàng T).
+ Bà Ph m Thị H1, sinh năm 1979; Chị Nguyễn Thị Vy T2, sinh năm 2003; Cháu Nguyễn Thị Vy T3, sinh năm 2011 (là con của ông Nguyễn Hoàng T, bà Ph m Thị H1 là người diện hợp pháp cho cháu T3).
Cùng cư trú: Thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
Ông Nguyễn Hoàng T4, sinh năm 1985, cư trú t i: Thôn B, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi là người đ i diện theo ủy quyền của ông T1, bà C, bà H1, chị T2. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị Bích
T5, Luật sư Văn ph ng L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Q. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn T6, sinh năm 1959
Có mặt.
2. Bà Nguyễn Phi K, sinh năm 1984
Có mặt.
3. Bà Huỳnh Thị T7, sinh năm 1972
Có mặt.
4. Ông Bùi Đức T8, sinh năm 1978
5. Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1977
6. Ông Ph m Phú C2, sinh năm 1976
7. Ông Phan Duy T9, sinh năm 1975
Đều vắng mặt.
8. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1950
Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên t a, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 09/8/2023, bị cáo Võ Minh V điện tho i cho Nguyễn Hoàng T rủ T đến nhà của V để nhậu, khoảng 05 phút sau T đến. T i đây, T và V cùng uống rượu g o với mồi là chim cu nấu đu đủ, khi cả hai uống hết 500ml rượu g o thì nghỉ, lúc này khoảng 20 giờ, sau đó cả hai cùng rủ nhau đến quán N để nhậu tiếp. Khi đến quán, Võ Minh V điện tho i rủ ông Nguyễn T6 đến nhậu cùng. Khoảng 10 phút sau ông T6 đến, lúc này T, T6 và V uống bia D quất chai với mồi là gỏi tai heo bóp chua. Trong lúc ngồi nhậu, V có trêu ghẹo Nguyễn Phi K (là người ph bán quán), V nói: “em tên Kiều hả”, K trả lời “biết rồi mà hỏi hoài”, V nói “anh T hỏi đó”, sau đó T nói “bà con thông sui gia của tao đó, tao không thích giỡn như vậy”, V nói với ông T “thông sui gia có nơi có chỗ, chỗ đây bán quán mà sợ gì”, thời điểm này ông V và ông T có to tiếng với nhau nên ông T6 can ngăn rồi tiếp t c nhậu. Sau khi uống được khoảng 20 chai bia thì nghỉ rồi kêu chủ quán tính tiền.
Trong lúc đợi chủ quán tính tiền T nói là “Đ.M mày, tao dẫn mày đi nhậu mà mày gây với tao, tao thách mày kêu mấy đứa em mày lên đó”, sau đó giữa T và V tiếp t c xảy ra cãi vả với nhau, V dùng tay xô đẩy T ra khỏi bàn nhậu và nói “cha mẹ tao chết hết rồi mày đ ai vậy”. Thấy vậy, T6 đến can ngăn, vì sợ V và T cầm vỏ chai bia đánh nhau nên T6 đến vị trí bàn nhậu để dọn vỏ chai bia. Thời điểm này, V và T đứng đối diện với nhau và cách nhau khoảng 70cm, V dùng tay phải đánh ngang 01 (một) cái từ phải sang trái với lực m nh trúng vào vùng thái dương bên trái, mặt bên trái của T làm T ngã, đập đầu xuống nền xi măng. Thấy T nằm bất tĩnh dưới nền xi măng thì V đến đỡ đầu T và nói “sao vậy b n”, lúc này T6 lấy xô nước đá đưa cho V, V rửa mặt cho T, sau đó T6 điều khiển xe mô tô ch T ngồi giữa, V ngồi sau đỡ T rồi đưa T đến tr m y tế xã T để cấp cứu và được chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Q, vì T bị thương nặng nên được đưa đến Bệnh viện Đ điều trị, đến ngày 20/8/2023 thì chết và được gia đình đưa về nhà để mai táng theo phong t c địa phương.
T i Bản kết luận giám định tử thi số 1740/KL-KTHS, ngày 20/9/2023, của Phân viện Khoa học hình sự t i thành phố Đà Nẵng kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Hoàng T: Suy hô hấp, tuần hoàn do phù não - hậu quả của chấn thương sọ não nặng.
* Về trách nhiệm dân sự: Đ i diện bị h i Nguyễn Hoàng T là anh Nguyễn Hoàng T4 yêu cầu Võ Minh V bồi thường các khoản cứu chữa, tiền thuốc, người theo nuôi, mai táng phí, tiền tổn thất tinh thần và cấp dưỡng nuôi con một lần cho cháu Nguyễn Thị Vy T3, sinh năm 2011 (con của bị h i Nguyễn Hoàng T) số tiền 430.764.000đ (Bốn trăm ba mươi triệu bảy trăm sáu mươi bốn nghìn đồng), nhưng t i phiên t a anh Nguyễn Hoàng T4 yêu cầu Võ Minh V bồi thường các khoản tổng cộng là 350.000.000 đồng (Trong đó: tiền cứu chữa, tiền thuốc, người theo nuôi, mai táng phí là 242.000.000 đồng và tiền cấp dưỡng nuôi con là 108.000.000 đồng), Võ Minh V đã bồi thường 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng).
T i Cáo tr ng số 19/CT-VKSST ngày 14 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Võ Minh V về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định t i điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
T i phiên t a, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo tr ng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo ph m tội “Cố ý gây thương tích”; căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử ph t bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù kể từ ngày 23/8/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; khoản 1 điều 584, khoản 1 điều 585, 586, 590, 591 Bộ luật dân sự năm 2015, công nhận việc thỏa thuận giữa bị cáo Võ Minh V và đ i diện gia đình người bị h i là anh Nguyễn Hoàng T4, theo thỏa thuận bị cáo V phải bồi thường tổng số tiền 350.000.000 đồng (Trong đó: Các khoản cứu chữa, tiền thuốc, người theo nuôi, mai táng phí, tiền tổn thất tinh thần là 242.000.000 đồng và cấp dưỡng nuôi con một lần cho cháu Nguyễn Thị Vy T3, sinh năm 2011 (con của bị h i Nguyễn Hoàng T) số tiền là 108.000.000 đồng), Võ Minh V đã bồi thường 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng), bị cáo c n phải bồi thường cho đ i diện gia đình người bị h i anh Nguyễn Hoàng T4 số tiền 270.000.000 đồng.
Về án phí: Áp d ng Điều 135 Bộ luật tố t ng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Buộc Bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; 8.100.000đ (Tám triệu một trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thầm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng.
Luật sư bảo vệ cho bị h i thống nhất với tôi danh, điều luật, mức hình ph t mà đ i diện Viện kiểm sát đề nghị. Về bồi thường thiệt h i yêu cầu bị cáo Võ Minh V bồi thường với tổng số tiền 350.000.000 đồng (Trong đó: Các khoản cứu chữa, tiền thuốc, người theo nuôi, mai táng phí, tiền tổn thất tinh thần là 242.000.000 đồng và cấp dưỡng nuôi con một lần cho cháu Nguyễn Thị Vy T3, sinh năm 2011 (con của bị h i Nguyễn Hoàng T) số tiền là 108.000.000 đồng), Võ Minh V đã bồi thường 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng), bị cáo c n phải bồi thường cho gia đình người bị h i số tiền 270.000.000 đồng.
T i phiên t a, bị cáo V không có ý kiến tranh luận đối với nội dung luận tội của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên t a, T a án nhận định như sau:
Về hành vi và quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên t a, bị cáo và đ i diện hợp pháp của bị h i không có người nào có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, của người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối chiếu lời khai của bị cáo Võ Minh V, lời khai của người tham gia tố t ng khác là phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nên T a án có đủ cơ s kết luận khoảng hơn 20 giờ ngày 09/8/2023, t i quán N thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, Võ Minh V đã dùng tay đánh Nguyễn Hoàng T, làm cho Nguyễn Hoàng T bị ngã, đập đầu xuống nền xi măng bị chấn thương sọ não, được mọi người đưa đi cấp cứu, điều trị, đến ngày 20/8/2023 thì chết.
Do vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi ph m tội và nhân thân của bị cáo thì thấy: Võ Minh V là người có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của Võ Minh V đã xâm ph m đến sức khoẻ dẫn đến tử vong cho Nguyễn Hoàng T. Chính vì vậy, phải xử lý Võ Minh V bằng biện pháp hình sự với một chế tài tương xứng là đúng đắn và cần thiết.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình giải quyết v án, bị cáo khai báo thành khẩn, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi ph m tội của mình; đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt h i để khắc ph c hậu quả; Có bà ngo i Ngô Thị H2 là người có công với cách m ng, cậu ruột Đào Tuyên H3 là Liệt sĩ, t i phiên t a đ i diện gia đình bị h i đề nghị giảm nhẹ hình ph t đối với bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đ i diện hợp pháp của bị h i tự nguyện thỏa thuận: Bị cáo Võ Minh V bồi thường cho bị h i với tổng số tiền 350.000.000 đồng (Trong đó: Các khoản cứu chữa, tiền thuốc, người theo nuôi, mai táng phí, tiền tổn thất tinh thần là 242.000.000 đồng và cấp dưỡng nuôi con một lần cho cháu Nguyễn Thị Vy T3, sinh năm 2011 (con của bị h i Nguyễn Hoàng T) số tiền là 108.000.000 đồng), Võ Minh V đã bồi thường 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng), bị cáo c n phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn T1; bà Huỳnh Thị C (là cha mẹ đẻ của ông Nguyễn Hoàng T); bà Ph m Thị H1 (là vợ của ông Nguyễn Hoàng T); Chị Nguyễn Thị Vy T2; cháu Nguyễn Thị Vy T3 (là con của ông Nguyễn Hoàng T, bà Ph m Thị H1) số tiền 270.000.000 đồng.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp d ng Điều 135 Bộ luật tố t ng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban Thường v Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí T a án. Buộc Bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; 8.100.000đ (Tám triệu một trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thầm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng.
Đề nghị về mức hình ph t của đ i diện viện kiểm sát đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Đề nghị của Luật sư bảo vệ cho bị h i là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự,
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Minh V ph m tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp d ng Điều 50, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
3. Xử ph t bị cáo Võ Minh V 07 (bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 23/8/2023.
4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; khoản 1 điều 584, khoản 1 điều 585, 586, 590, 591 Bộ luật dân sự năm 2015.
Bị cáo Võ Minh V phải bồi thường các khoản tiền cứu chữa, tiền thuốc, người theo nuôi, mai táng phí, tiền tổn thất tinh thần là 242.000.000 đồng và cấp dưỡng nuôi con một lần cho cháu Nguyễn Thị Vy T3, sinh năm 2011 (con của bị h i Nguyễn Hoàng T) số tiền là 108.000.000 đồng, bị cáo Võ Minh V đã bồi thường 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng), bị cáo c n phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn T1; bà Huỳnh Thị C (là cha mẹ đẻ của ông Nguyễn Hoàng T); bà Ph m Thị H1 (là vợ của ông Nguyễn Hoàng T); Chị Nguyễn Thị Vy T2; cháu Nguyễn Thị Vy T3 (là con của ông Nguyễn Hoàng T, bà Ph m Thị H1) số tiền 270.000.000 đồng.
Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) mà bên phải thi hành án không thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng bên phải thi hành án phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm thi hành án cho đến khi thi hành xong. Lãi suất phát sinh chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không vượt quá mức lãi suất được quy định t i khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định t i khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
6. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp d ng Điều 135 Bộ luật tố t ng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban Thường v Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí T a án. Buộc bị cáo Võ Minh V phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; 8.100.000đ (Tám triệu một trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thầm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng.
7. Kháng cáo: Áp d ng Điều 331, 333 Bộ luật tố t ng hình sự.
Bị cáo, người đ i diện hợp pháp của bị h i có mặt có quyền kháng cáo trong thời h n 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt t i phiên t a có quyền kháng cáo trong thời h n 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - S Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi; - Cơ quan THAHS Công an huyện Sơn Tịnh; - Chi c c Thi hành án Dân sự huyện Sơn Tịnh; - Bị cáo; người đ i diện hợp pháp của bị h i; - UBND xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi; - Lưu: Án văn; hồ sơ v án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thƣợng Trọng Ký |