vanban.org

Bản án 04/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Y D Mlô.

Về hôn nhân: Cho anh Y D Mlô được ly hôn với chị H’ Tr Niê. Về nuôi con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Y D - H TR"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Y D Mlô.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BUÔN HỒ
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 26-02-2024.
V/v: “Kiện ly hôn và tranh
chấp nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ.

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Vũ.

Các hội thẩm nhân dân:

1, Ông Nguyễn Văn Thức.

2, Ông Y Dhiệu Hmok.

-Thư ký phiên Tòa: Ông Thiều Sỹ Vững - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Phi Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 26/02/2024 tại phòng xử án, Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ mở phiên toà xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 267/2023/TLST-HNGĐ ngày 15/11/2023 về việc “Kiện ly hôn và tranh chấp nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17/01/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05/02/2024, giữa:

Nguyên đơn: Anh Y D Mlô, sinh năm: 1996. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Buôn Ur, thị trấn Krông N, huyện Krông N, tỉnh Đăk Lăk.

Bị đơn: Chị H’Tr Niê, sinh năm 1996. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Địa chỉ: Buôn K, xã Ea D, thị xã Buôn H, tỉnh Đăk Lăk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án anh Y D là nguyên đơn trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Y D và chị H’Tr về sống chung với nhau từ năm 2016, đăng ký kết hôn tại UBND xã Ea D, thị xã Buôn H, tỉnh Đăk Lăk, kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, sau khi về sống chung hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng nhiều quan điểm nên xảy ra nhiều cuộc cãi vã làm mất tình cảm vợ chồng, hiện anh Y D và chị H’Tr đã sống ly thân, cuộc sống chung không thể kéo dài được nữa, nay anh Y D yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H’Tr.

Về con chung: Anh Y D và chị H’Tr có 01 con chung là Y Bh Niê, sinh ngày 12/11/2016, hiện con chung do chị H’Tr nuôi dưỡng, nên anh Y D đồng ý để chị H’Tr tiếp tục nuôi con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hiện tại chưa ghi nhận được ý kiến của chị H’Tr.

Về tài sản và nợ chung: Anh Y D không yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung.

Quá trình điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ chị H’Tr Niê là bị đơn: Cố tình lẩn tránh, không hợp tác nên không ghi nhận được ý kiến của chị H’Tr và chị H’Tr cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của anh Y D.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa khẳng định:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ, Tòa án thực hiện đầy đủ và đúng trình tự theo quy định của pháp luật về tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của đương sự có trong hồ sơ vụ án do chủ tọa phiên tòa đã công bố tại phiên tòa thể hiện việc anh Y D khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị H’Tr là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình. Cho anh Y D ly hôn với chị H’Tr, tiếp tục giao con chung cho chị H’Tr nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Pháp luật về tố tụng: Việc anh Y D Mlô khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị H’Tr Niê, Toà án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập các đương sự đến Tòa án để công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng chị H’Tr vẫn vắng mặt không có lý do, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, nên Tòa án không thể tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự được mà tiến hành xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi chị H’Tr cư trú. Căn cứ khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải được và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn anh Y D có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

. Pháp luật về nội dung:

2.1, Về quan hệ hôn nhân: Anh Y D Mlô và chị H’Tr Niê về sống chung với nhau từ năm 2016, đăng ký kết hôn tại UBND xã Ea D, thị xã Buôn H, tỉnh Đăk Lăk theo giấy chứng nhận kết hôn số 64/2016/KH ngày 07/7/2016. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng nhiều quan điểm nên xảy ra nhiều cuộc cãi vã làm mất tình cảm vợ chồng, hiện anh Y D và chị H’Tr đã sống ly thân, cuộc sống chung không thể kéo dài được nữa, nay anh Y D yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H’Tr.

Căn cứ vào lời khai của đương sự và qua xác minh tại chính quyền địa phương thì anh Y D và chị H’Tr thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hiện tại hai người đã sống ly thân. Do đó, xét thấy mâu thuẫn giữa anh Y D và chị H’Tr ngày càng trầm trọng, giữa hai người không còn thương yêu, chăm sóc, quý trọng lẫn nhau, thực tế hôn nhân không còn tồn tại. Vì vậy, việc anh Y D yêu cầu ly hôn với chị H’Tr là có căn cứ, nên cần chấp nhận.

2.2, Về con chung: Anh Y D và chị H’Tr có 01 con chung. Nhận thấy, sau khi sống ly thân chị H’Tr là người trực tiếp nuôi con, nay ly hôn anh Y D đồng ý để chị H’Tr tiếp tục nuôi con, nên cần giao con chung là Y Bh Niê, sinh ngày 12/11/2016 cho chị H’Tr trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp.

2.3, Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại chưa ghi nhận được ý kiến của chị H’Tr, nên không đề cập xem xét. Nếu chị H’Tr có yêu cầu sẽ giải quyết bằng vụ án cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Y D có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

2.4, Về tài sản và nợ chung: Anh Y D không yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung, nên không đề cập xem xét.

. Về án phí: Anh Y D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Y D Mlô.

1. Về hôn nhân: Cho anh Y D Mlô được ly hôn với chị H’ Tr Niê.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung là Y Bh Niê, sinh ngày 12/11/2016 cho chị H’Tr trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.

2.2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hiện tại chưa ghi nhận được ý kiến của chị H’Tr, nên không đề cập xem xét. Nếu chị H’Tr có yêu cầu sẽ giải quyết bằng vụ án cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Y D có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản và nợ chung: Anh Y D không yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung, nên không đề cập xem xét.

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 3 Điều 144; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 5 Điều 19; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án;

Anh Y D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục THADS thị xã Buôn Hồ theo biên lai số AA/2021/0018845 ngày 15/11/2023.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ