- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chung Thị Kim Phụng - Dư Gia Vĩ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Chung Thị Kim P về việc: Tranh chấp ly hôn với bị đơn ông Dư Gia V.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2024/HNGĐ-ST Ngày: 15-01-2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Ngọc Hoàng An.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thắm.
Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Phương - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 803/2023/TLST– HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2023 về việc: “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 04/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21/12/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Chung Thị Kim P, sinh năm 1982 – có yêu cầu xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Ông Dư Gia V, sinh năm 1976 – vắng mặt.
Cùng hộ khẩu thường trú: Ấp 1, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.
Cùng tạm trú: Tổ 6, ấp B, xã P, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 06/11/2023 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Chung Thị Kim P trình bày:
Qua thời gian tìm hiểu, bà P và ông V chung sống cùng nhau và đăng ký kết hôn ngày 15/8/2002 tại Ủy ban nhân dân xã Hàng Vịnh, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Năm 2022, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông V có tính tình cọc cằn, thường la mắng, xúc phạm bà P vô cớ. Ông V không có trách nhiệm với gia đình, không phụ giúp bà P về mặt kinh tế trong gia đình, thường xuyên uống rượu và ông có mối quan hệ tình cảm với nhiều người phụ nữ khác. Khi bà P góp ý thì hai bên to tiếng qua lại và ông V đã đánh bà P. Vợ chồng thường xuyên có những mâu thuẫn nêu trên.
Nay, vì không còn tình cảm với ông V nên bà P yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng một con chung tên: Dư Gia T, sinh năm 2002. Con chung đã trưởng thành nên bà P không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
* Bị đơn ông Dư Gia V:
Ông V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, ông V không chấp hành theo giấy triệu tập, vắng mặt không có lý do. Ông V không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà P và không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án.
* Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát tham gia phiên toà:
- Về tố tụng: Việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ là đúng theo quy định, những người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Bà P khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với ông V nên quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “tranh chấp ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền giải quyết: Ông V đăng ký tạm trú và hiện đang sinh sống tại địa chỉ: Tổ 6, ấp B, xã P, thị xã B, tỉnh Bình Dương nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Về việc xét xử vắng mặt:
Ông V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ, tham gia phiên tòa nhưng ông V đều vắng mặt. Việc vắng mặt của ông V không vì lý do bất khả kháng. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông V.
Bà P có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà P.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà P và bị đơn ông V trên cơ sở tự nguyện đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hàng Vịnh, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau vào ngày 15/8/2002. Như vậy, hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình tố tụng, bà P xác định giữa bà P và ông V phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, không thể hàn gắn được do ông V có tính tình cọc cằn, thường la mắng, xúc phạm bà P vô cớ. Ông V không có trách nhiệm với gia đình, không phụ giúp bà P về mặt kinh tế trong gia đình, thường xuyên uống rượu và ông có mối quan hệ tình cảm với nhiều người phụ nữ khác. Khi bà P góp ý thì hai bên to tiếng qua lại và ông V đã đánh bà P
Qúa trình tố tụng, ông V vắng mặt và cũng không có văn bản trình bày ý kiến. Do đó, xem như ông V từ bỏ quyền chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại phiên tòa.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông V không còn hạnh phúc. Bà P xác định vợ chồng có nhiều mẫu thuẫn không thể hàn gắn được và bà P không còn tình cảm với ông V. Ông V không tham gia tố tụng và không có văn bản trình bày ý kiến. Cho thấy ông V không có thiện chí hoà giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng, không còn quan tâm đến hạnh phúc gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa bà P và ông V đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P.
Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa bà P và ông V có một con chung tên: Dư Gia T, sinh năm 2002. Con chung đã trưởng thành nên bà P không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà P không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên có căn cứ chấp nhận.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Chung Thị Kim P về việc: Tranh chấp ly hôn với bị đơn ông Dư Gia V.
- Về hôn nhân: Bà Chung Thị Kim P được ly hôn với ông Dư Gia V.
- Về con chung: Con chung tên Dư Gia T, sinh năm 2002 đã trưởng thành nên không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp nên không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí: Bà Chung Thị Kim P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0012536 ngày 06/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát.
3. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Bến Cát; - Chi cục THADS thị xã Bến Cát; - UBND xã Hàng Vịnh, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu: HSVA, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Hoàng An |