vanban.org

Bản án 04/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 25/01/2024 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Lục Vương Huệ M. Cho chị Lục Vương Huệ M và anh Đinh Triệu L được ly hôn.

Về án phí: Chị Lục Vương Huệ M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ đã nộp tạm ứng án phí, theo biên lai thu số 0008753 ngày 11/12/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng. (Chị M đã nộp đủ tiền án phí) Trong hạn 15 ngày kể t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Về việc xin ly hôn giữa Chị Lục Vương Huệ M và Anh Đinh Triệu L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Lục Vương Huệ M. Cho chị Lục Vương Huệ M và anh Đinh Triệu L được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25 - 01 - 2024
Về việc xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Thị Biên

Bà Nguyễn Xuân Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Anh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

Ngày 25 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 34/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023 về việc xin ly hôn.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lục Vương Huệ M, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn B, xã Q, huyện C, tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ liên hệ: Số B đường P, Phường A, Quận P, Thành Phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Anh Đinh Triệu L, sinh năm 1995; địa chỉ: A N State H A #115 G, T, H.

(Chị M có mặt, anh L có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn chị Lục Vương Huệ M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đinh Triệu L quen biết thông qua người quen giới thiệu. Năm 2016 anh L có về Việt Nam để gặp mặt lần đầu và tìm hiểu nhau khoảng 01 năm thì anh chị đăng ký kết hôn vào ngày 15/11/2017 tại UBND huyện C, tỉnh Lâm Đồng. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, anh L ở lại nhà chị tại Thôn B, xã Q, huyện C, tỉnh Lâm Đồng khoảng tầm 01 tháng và sau đó trở về Hoa kỳ để tiếp tục công việc. Trong thời gian này, anh chị vẫn liên lạc với nhau qua mạng xã hội, anh L có về Việt Nam thăm chị 02 lần vào năm 2018 và năm 2020, mỗi lần anh L về khoảng 01 tháng và anh L có hứa sẽ làm thủ tục bảo lãnh để đưa chị sang Hoa Kỳ định cư để vợ chồng đoàn tụ. Tuy nhiên, anh L đã không thực hiện đúng lời hứa. Đến khoảng tháng 12/2020, anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi. Anh chị đã nhiều lần nói chuyện với nhau để tìm cách khắc phục nhưng không được. Nay chị xác định tình cảm không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn với anh Đinh Triệu L.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Theo bản tự khai của bị đơn anh Đinh Triệu L được hợp pháp hóa lãnh sự tại B, Hoa Kỳ ngày 13/7/2023: Anh và chị Lục Vương H Mẫn quen biết thông qua người quen giới thiệu. Sau thời gian tìm hiểu anh chị đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Lâm Đồng, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và có tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán. Sau đó anh trở về Hoa Kỳ để tiếp tục làm ăn sinh sống và thời gian này anh có làm thủ tục bảo lãnh để vợ chồng đoàn tụ nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên anh không thể bảo lãnh chị M sang Hoa Kỳ như đã hứa nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Từ tháng 12/2020 đến nay vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Nay chị M khởi kiện yêu cầu xin ly hôn thì anh đồng ý ly hôn.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã tiến hành hòa giải nhưng không được do bị đơn anh Định Triệu L1 có đơn đề nghị Tòa án hòa giải, xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Lục Vương H Mẫn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Đinh Triệu L, sinh năm 1995; địa chỉ: A N State H A #115 G, T, H. Nên xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa Gia đình và Người chưa thành niên - Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 2 Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh L đã có bản tự khai và đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bản tự khai của anh L đã được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật, nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng tiến hành xét xử vắng mặt anh Đinh Triệu L theo quy định.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lục Vương Huệ M và anh Đinh Triệu L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Uỷ ban nhân nhân huyện C, tỉnh Lâm Đồng cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 04 ngày 15/11/2017. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ theo quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.

Sau khi đăng ký kết hôn anh L và chị M chung sống tại nhà chị M tại thôn B, xã Q, huyện C, tỉnh Lâm Đồng khoảng 01 tháng sau đó anh L trở về Hoa kỳ để làm ăn sinh sống và tiếp tục công việc. Quá trình sống chung vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do trước khi kết hôn vợ chồng đã bàn bạc thống nhất anh L sau khi về Hoa Kỳ sẽ tiến hành làm thủ tục bảo lãnh chị M sang Hoa Kỳ để vợ chồng đoàn tụ, nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên anh L không thể làm thủ tục bảo lãnh chị M sang Hoa Kỳ để gia đình đoàn tụ như đã hứa nên vợ chồng bắt đầu xảy ra mẫu thuẫn. Đến khoảng tháng 10/2020, do không thống nhất được việc đoàn tụ nên anh L đã cắt đứt mọi liên lạc. Nay chị M, anh L đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được và mâu thuẫn đã trầm trọng không còn khả năng hàn gắn, cả anh L và chị M đều có nguyện vọng xin được thuận tình ly hôn. Tuy nhiên, do anh Đinh Triệu L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ các quy định tại Điều 51, 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị M, anh L ly hôn.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị M, anh L đều xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 51, 56, 57, 123, 127 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 37, điểm a khoản 2 Điều 38, 228, Điểm c khoản 5 Điều 477, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 16 Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 của Bộ Tư pháp, Bộ N và Tòa án nhân dân tối cao.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Lục Vương Huệ M. Cho chị Lục Vương Huệ M và anh Đinh Triệu L được ly hôn.

2. Về án phí: Chị Lục Vương Huệ M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ đã nộp tạm ứng án phí, theo biên lai thu số 0008753 ngày 11/12/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng. (Chị M đã nộp đủ tiền án phí)

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày chị Lục Vương H M nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết bà M có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng anh Đinh Triệu L được quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ