vanban.org

Bản án 04/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho chị Phạm Thị N được ly hôn đối với anh Bùi Văn M. Quan hệ hôn nhân của chị Phạm Thị N và anh Bùi Văn M chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bùi Diễm M1 đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Bùi Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Bùi Văn M được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản anh M thực hiện quyền này.Vì lợi ích của… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Nõn- Bùi Văn Mùi"
  • Tòa quyết gì? Xử cho chị Phạm Thị N được ly hôn đối với anh Bùi Văn M. Quan hệ hôn nhân của chị Phạm Thị N và anh Bùi Văn M chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHO QUAN
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04 /2024/HNGĐ-ST
Ngày: 01/2/2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
chung khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Khắc Thái

Ông Hà Quang Văn

Thư ký phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Bình Thư ký Toà án nhân dân huyện Nho Quan

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hòa– Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 233/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2023;về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”.Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Anh Bùi Văn M, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Bản X, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình; (Vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện,bản tự khai, Nguyên đơn chị Phạm Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn M được tự do tìm hiểu và tự nguyện đi đăng ký kết hôn ngày 24/6/2021 tại UBNDxã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị không có tiếng nói chung. Trong thời gian sinh sống hai vợ chồng chị mâu thuẫn càng trầm trọng khiến không khí gia đình căng thẳng. Kể từ tháng 3 năm 2022, vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay. Anh M đã không ở cùng với chị và con. Chị thấy cho đến nay mâu thuẫn đã căng thẳng, trầm trọng không còn ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nên chị làm đơn này đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Bùi Văn M.

Về con chung: Chị N và anh M có 01 con chung là cháu Bùi Diễm M1 sinh ngày 01/12/2021. Hiện nay cháu M1 đang ở với chị nên khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu M1 và không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung và công nợ chung không có nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại đơn xin xử vắng mặt chị Phạm Thị N vẫn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Văn M vì tình cảm anh chị không còn. Về con chung chị đề nghị được nuôi dưỡng chăm sóc cháu Bùi Diễm M1 đến khi cháu đủ 18 tuồi và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và công nợ chung chị M không đề nghị tòa án giải quyết.

Lời trình bày của bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Bùi Văn M mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không nộp (gửi) cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của anh M đối với yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có). Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình đã tiến hành làm việc trực tiếp với anh M tại địa phương tuy nhiên do anh M đi làm nên mẹ đẻ anh M đã nhận toàn bộ thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo kết quả tiếp cân công khai chứng cứ và bà đã cam kết giao tận tay cho anh M. Sau khi giao tận tay các văn bản cho anh M thì anh M có ý kiến với mẹ đẻ của anh M là đồng ý ly hôn và đồng ý giao cháu M1 cho chị N nuôi dưỡng nhưng do công việc không xin nghỉ được nên anh M không có thời gian đến tòa án để làm việc và bà Đỗ Thị T là mẹ đẻ của anh M có viết đơn đề nghị để trình bày ý kiến của anh M cho Tòa án. Tòa án nhân dân huyện Nho Quan đã tiến hành xác minh và xác định được bị đơn anh Bùi Văn M có nơi cư trú ở Bản X, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình tuy nhiên anh M đi làm từ sáng đến tối mới về nhà. Tòa án không thể tiến hành được việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Bùi Văn M nên đã tiến hành giao các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho người thân của anh M để thông báo cho anh M được biết..

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan tham gia tố tụng tại phiên tòa giải quyết vụ án sơ thẩm phát biểu ý kiến:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326 ngày30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Xử cho chị Phạm Thị N được ly hôn đối với anh Bùi Văn M. Quan hệ hôn nhân của chị Phạm Thị N và anh Bùi Văn M chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị N trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục đối với cháu Bùi Diễm M1 sinh ngày 01/12/2021cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh M không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Bùi Văn M được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung, công nợ chung:chị Phạm Thị N không yêu cầu, Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị Phạm Thị N phải nộp toàn bộ án phí ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chị cục thi hành án dân sự huyện Nho Quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định các vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau:

.Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn; Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Phạm Thị N có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Theo khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải là có căn cứ.

- Ngày 27/12/2023 là nguyên đơn chị Phạm Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo quy định Điều 227; Khoản 1, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị N.

- Anh Bùi Văn M là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh M theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự

.Về áp dụng pháp luật nội dung:

.Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Thị N và anh Bùi VĂn M2 được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn vào 24/6/2021 tại UBNDxã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình trên cơ sở tự nguyện đây là cuộc hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 13 ngày 24/6/2021. Đây là hôn nhân hợp pháp theo Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.

Sau khi kết hôn vợ chồng chị N và anh M2 chung sống hòa thuận hạnh phúc được đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị không có tiếng nói chung. Trong thời gian sinh sống hai vợ chồng anh chị mâu thuẫn càng trầm trọng khiến không khí gia đình căng thẳng. Tháng 3 năm 2022 chị N và anh M2 đã sống ly thân chị N đã chuyển về ở với bố mẹ để tại tỉnh Thái Bình cho đến nay mâu thuẫn đã căng thẳng, trầm trọng không còn ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa nên chị N đề nghị xin ly hôn anh M2. hai vợ chồng chị N và anh M2 không chung sống với nhau chị N thì ở nhà bố mẹ đẻ tại tỉnh Thái Bình cho đến nay. Anh M2 thì ở nhà của mình ở xã K, huyện N. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh M2 và chị N đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng sống ly thân chị N ở nhà của mình ở xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình; cho đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau; chính quyền địa phương nơi anh M2 cư trú cũng xác nhận có đăng ký kết hôn tại UBNDxã K, huyện N, anh M2 và chị N không chung sống với nhau ở xã K, huyện N. Đến nay anh M2 sinh sống ở xã K, huyện N còn chị N vẫn sinh sống tại tỉnh Thái Bình. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận đơn khởi kiện của chị N, xử cho chị Phạm Thị N được ly hôn với anh Bùi Văn M là phù hợp Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

.Về con chung: Chị Phạm Thị N và anh Bùi Văn M có 01 con chung là cháu Bùi Diễm M1 sinh ngày 01/12/2021. Từ khi chị N và anh M dọn ra chỗ khác ở không còn ở cùng nhau, cháu M1 do chị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị N đề nghị nuôi cháu M1. Xét thấy Chị N có thu nhập ổn định, đủ điều kiện đảm bảo cuộc sống cho cháu và cháu M1 hiện nay chưa đủ 36 tháng tuổi. Vì vậy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án giao cho chị Phạm Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bùi Diễm M1 đến khi cháu đủ 18 tuổi.

.Về tài sản chung, công nợ chung: Chị N không yêu cầu do vậy Hội đồng xét xử không xem xét

.Về án phí:

- Án phí ly hôn: Chị Phạm Thị N chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, điểm b, khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Xử cho chị Phạm Thị N được ly hôn đối với anh Bùi Văn M. Quan hệ hôn nhân của chị Phạm Thị N và anh Bùi Văn M chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bùi Diễm M1 đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Bùi Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Bùi Văn M được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản anh M thực hiện quyền này.Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung, công nợ chung: Tòa án không xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0000367 ngày 26 tháng 10 năm 2023.

Án xử công khai sơ thẩm chị N và anh M vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ