vanban.org

Bản án 04/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban T;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn chị Hoàng Thị L. Chị Hoàng Thị L được ly hôn với anh Đặng Văn S. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban T;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:04/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 02 - 4 - 2024
V/v : Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Thúy Chính.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh Hùng.

Bà Nguyễn Thị Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Đặng Đức Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 08/2024/TLST-HNGĐ, ngày 23 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXX-ST ngày 11 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Hoàng Thị L, sinh năm 2000.

Nơi thường trú: thôn H, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: anh Đặng Văn S, sinh năm 1998.

Nơi thường trú: thôn H, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 15/02/2024 và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Hoàng Thị L trình bày: chị và anh Đặng Văn S đăng ký kết hôn ngày 22/4/2019 tại UBND xã Q (nay là xã Q), huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, chị và anh S chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã nên đã ly thân từ tháng 12 năm 2023 đến nay. Những mâu thuẫn trên đã thật sự sâu sắc, cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đặng Văn S.

Về con chung: chị Hoàng Thị L và anh Đặng Văn S có 01 con chung là Đặng Hoàng A, sinh ngày 12/4/2020. Nay ly hôn, chị L đề nghị Tòa án giao con chung Đặng Hoàng A cho anh Đặng Văn S nuôi dưỡng. Chị L có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với số tiền 2.000.000đ/tháng. Việc cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 4 năm 2024 đến khi con thành niên và có quyền qua lại thăm nom con chung không ai được phép cản trở.

Về tài sản chung và khoản nợ chung: chị Hoàng Thị L và anh Đặng Văn S không có tài sản chung, không có nợ chung.

Về án phí: chị Hoàng Thị L xin chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

Tại Bản tự khai ngày 23/02/2024, Bị đơn, anh Đặng Văn S trình bày: Về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn như chị Hoàng Thị L trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, anh và chị L chung sống hạnh phúc đến giữa tháng 01 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên xảy ra cãi vã. Chị L đã bỏ nhà đi từ ngày 14/01/2024 đến nay. Tuy nhiên thấy rằng tình cảm vợ chồng vẫn còn, chưa đến mức phải ly hôn. Anh S không đồng ý ly hôn với chị Hoàng Thị L. Đề nghị Tòa án tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Về con chung: anh S và chị Hoàng Thị L có 01 con chung là Đặng Hoàng A, sinh ngày 12/4/2020. Về tài sản chung và nợ chung: anh S và chị Hoàng Thị L không có tài sản chung, không có nợ chung. Về án phí: chị Hoàng Thị L khởi kiện xin ly hôn thì phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Đặng Văn S. Nhưng anh S vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do chính đáng.

Ngày 01/3/2024, Tòa án nhân dân huyện Hải Hà đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú của anh Đặng Văn S và chị Hoàng Thị L. Qua xác minh, đại diện chính quyền địa phương cho biết: chị Hoàng Thị L và anh Đặng Văn S đăng ký kết hôn ngày 22/4/2019 tại UBND xã Q (nay là xã Q), huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, chị L và anh S chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Chị Hoàng Thị L và anh Đặng Văn S đã ly thân từ tháng 12 năm 2023 đến nay. Những mâu thuẫn trên đã thật sự sâu sắc, cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về con chung: chị Hoàng Thị L và anh Đặng Văn S có 01 con chung là Đặng Hoàng A, sinh ngày 12/4/2020. Kể từ khi chị L và anh S ly thân, anh S là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành tố tụng theo đúng các trình tự thủ tục mà Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án mà không có lý do chính đáng.

- Về nội dung: đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị L. Về tình cảm: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị L đối với anh Đặng Văn S. Về con chung: chị Hoàng Thị L và anh Đặng Văn S có 01 con chung là Đặng Hoàng A, sinh ngày 12/4/2020, nay ly hôn, đề nghị Tòa án giao con chung cho anh Đặng Văn S nuôi dưỡng, chị L phải cấp dưỡng nuôi con với số tiền 2.000.000đ/tháng, việc cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 4 năm 2024 đến khi con thành niên. Về tài sản chung và khoản nợ chung: chị Hoàng Thị L và anh Đặng Văn S không có tài sản chung, không có nợ chung. Về án phí: chị Hoàng Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: chị Hoàng Thị L và anh Đặng Văn S đăng ký thường trú tại thôn H, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, nên căn cứ theo khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh.

Về quá trình tiến hành tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải…, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn là anh Đặng Văn S. Nhưng anh S vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do chính đáng. Chị Hoàng Thị L đã có Đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và Đơn xin xét xử vắng mặt nên việc Tòa án không tiến hành hòa giải được và xét xử vắng mặt anh Đặng Văn S, chị Hoàng Thị L là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 207; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: ngày 22/04/2019, chị Hoàng Thị L và anh Đặng Văn S kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q (nay là xã Q), huyện H. Hôn nhân của anh, chị là hợp pháp.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa chị Hoàng Thị L và anh Đặng Văn S phát sinh do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Vợ, chồng sống mỗi người một nơi và ly thân từ tháng 12 năm 2023 đến nay. Việc anh S vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng tại Tòa án cho thấy anh S cũng không có ý thức xây dựng gia đình, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy tình trạng mâu thuẫn giữa chị L và anh S là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị L đối với anh Đặng Văn S là phù hợp với thực trạng quan hệ hôn nhân của anh, chị; phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Hội đồng xét xử thấy rằng: chị Hoàng Thị L và anh Đặng Văn S có 01 con chung là Đặng Hoàng A, sinh ngày 12/4/2020. Quá trình giải quyết vụ án, chị L đề nghị Tòa án giao con chung cho anh S nuôi dưỡng, chị L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền 2.000.000đ/tháng. Việc cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 04 năm 2024 đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi) và có quyền qua lại thăm nom con chung không ai được phép cản trở. Nhận thấy: kể từ khi anh Đặng Văn S và chị Hoàng Thị L ly thân, anh S là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung.

Căn cứ vào quan điểm, nguyện vọng của chị Hoàng Thị L về vấn đề nuôi con, cấp dưỡng nuôi con; thực tế quá trình nuôi dưỡng con chung từ khi chị L và anh S ly thân. Để đảm bảo không xáo trộn cuộc sống cũng như tâm lý của trẻ em, cần giao con chung là Đặng Hoàng A cho anh Đặng Văn S tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục từ tháng 04 năm 2024 đến khi thành niên. Chị Hoàng Thị L phải cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền 2.000.000đ/tháng, việc cấp dưỡng được thực hiện từ tháng 04 năm 2024 đến khi con thành niên và có quyền qua lại thăm nom con chung không ai được phép cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: chị Hoàng Thị L và anh Đặng Văn S đều khẳng định không có tài sản chung, không có nợ chung, nên Tòa án không xem xét.

Về án phí: theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Nguyên đơn chị Hoàng Thị L phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 81; Điều 82; Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;

Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban T;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn chị Hoàng Thị L.

1. Chị Hoàng Thị L được ly hôn với anh Đặng Văn S.

2. Về con chung: giao con chung là Đặng Hoàng A, sinh ngày 12/4/2020 cho anh Đặng Văn S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục từ tháng 04/2024 đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị Hoàng Thị L phải cấp dưỡng nuôi con chung Đặng Hoàng A với số tiền 2.000.000đ/tháng (hai triệu đồng/ tháng) từ tháng 04 năm 2024 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi) và có quyền qua lại thăm nom con chung không ai được phép cản trở.

3. Về án phí: chị Hoàng Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005108 ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh. Chị Hoàng Thị L phải nộp tiếp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.

4. Về quyền kháng cáo: chị Hoàng Thị L và anh Đặng Văn S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ