vanban.org

Bản án 04/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Trúc L.

Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Trúc L được ly hôn anh Nguyễn N Lê Anh V. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Minh Q, sinh ngày 02/5/2015 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 09/7/2017 cho chị L là người được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, cho đến…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn, nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Trúc L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 170 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
NAM
HUYỆN CH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH GI
Bản án số: 04/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 22/4/2024
V/v: “Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CH, TỈNH GI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa pên tòa:Ông Bùi Đức R.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn N và bà Hoàng Thị B.

Thư ký pên tòa: Ông Hà Văn S - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Ch, tỉnh Gi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch tham gia pên tòa: Ông Nguyễn Minh D - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Ch, tỉnh Gi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:101/2023/TLST-HNGĐ, ngày 10/10/2023; về việc Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung; theoQuyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13/3/2024 và Quyết định hoãn pên tòa số:11a/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 04/4/2024, giữa:

N đơn: Chị Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 1986 (có mặt).

Địa chỉ: thôn Đại An 1, xã Ia K, huyện Ch, tỉnh Gi.

Bị đơn: Anh Nguyễn N Lê Anh V, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Địa chỉ: thôn Đại An 1, xã Ia K, huyện Ch, tỉnh Gi.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/10/2023, bản tự khai cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, n đơn chị L trình bày:

Về hôn nhân: Năm 2013, tôi và anh V tìm hiểu, t yêu nhau rồi tự nguyện đi đến hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND phường Trần H Đạo, thành phố Kon T, tỉnh Kon T. Chúng tôi chung sống hạnh p được thời gian đầu và có 02 con chung. Nh sau đó vợ chồng không hòa hợp, hay cãi vã; lý do là anh V thường hay chơi bời nh nhẹt, cờ bạc, về nhà còn chửi bới rồi đánh đập vợ con, không tôn trọng tôi; tôi đã cố gắng khuyên nhủ để gia đình êm ấm, nh mâu tẫn cứ diễn ra hàng ngày, tôi không thể chịu đựng được, tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách, phai nhạt.

Tôi đã chuyển ra ở riêng, chúng tôi sống ly thân nhau 02 năm rồi. Tôi thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn N Lê Anh V theo quy định của pháp luật.

Về con chung; chúng tôi có 02 con chung tên Nguyễn Minh Q, sinh ngày 02/5/2015 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 09/7/2017; ly hôn tôi có nguyện vọng nuôi con chung, vì các con từ nhỏ đến nay vẫn đang ở với tôi và tôi không yêu cầu anh V ph cấp dưỡng tiền nuôi con, vì từ khi sống ly thân cho đến nay tôi vẫn nuôi con, anh V không cấp dưỡng nuôi con, tôi vẫn đảm bảo nuôi con ổn định;hiện lương công nhân của tôi ổn định t nhập hàng tháng 8.000.000đồng/tháng và còn làm thêm rẫy.

Về tài sản chung và các nghĩa vụ chung: tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí:Tôi tự nguyện chịu án phí ly hôn theo quy định.

Bị đơn anh V trình bày: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập, tống đạt các văn bản tố tụng cho anh V theo đúng quy định của pháp luật, nhanh Vkhông lên làm việc, không có mặt. Vì vậy Tòa án ph đi xác minh và lập các thủ tục không tống đạt được, Niêm yết công khai các văn bản tố tụng như: Giấy triệu tập, Thông báo pên họp kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải... tại địa chỉ và nơi ở của anh V; Uỷ ban nhân dân xã Ia K và tại trụ sở Tòa án theo đúng quy định của pháp luật, nhanh V vẫn không tham gia tố tụng, không hợp tác cùng Tòa án để giải quyết vụ án, không có ý kiến phản hồi gì b văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của N đơn.

Tại pên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch, tỉnh Gi phát biểu quan điểm về tố tụng:

Căn cứ vào khoản 4 điều 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát.

Căn cứ vào các Điều 28; 35; 39; 147; 170; 195; 203; 205; 220; 227; 228; 233; 262 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 56; 57; 81; 82; 83; 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ, từ khâu thụ lý, thông báo về pên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận và hòa giải, các bước tống đạt quy trình tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định, đúng thẩm quyền giải quyết, thời gian giải quyết vụ án đảm bảo, giải quyết theo yêu cầu nội dung khởi kiện; Hội đồng xét xử thực hiện đầy đủ trình tự các bước của pên tòa dân sự sơ thẩm.

Về nội dung: Quan hệ về tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của n đơn để giải quyết ly hôn của chị Lvới anh V.

Về con chung: chị Lvới anh V có 02 con chung tên Nguyễn Minh Q, sinh ngày 02/5/2015 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 09/7/2017; nguyện vọng của chị Lxin được nuôi con; vì từ nhỏ đến nay các con chung đang ở với chị L và cũng là nguyện vọng của con chung muốn ở với mẹ; nên đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cho chị L trông nom - chăm sóc - nuôi dưỡng - giáo dục con chung là có cơ sở.

Chị L không yêu cầu anh Vđóng góp tiền nuôi dưỡng con chung, nên không xem xét.

Về tài sản chung nợ chung: không xem xét do đương sựkhông có yêu cầu.

Về án phí:chị L ph chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại pên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại pên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểmsát; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng cho bị đơn theo đúng quy định của pháp luật; nh bị đơn không đến làm việc, không hợp tác cùng Tòa án để ký nhận văn bản, tại pên tòa bị đơn vắng mặt lần thứ nhất, nên ph hoãn pên tòa; mở pên tòa xét xử lần thứ hai theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: chị Lvới anh V kết hôn trên cở sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Trần H Đạo, thành phố Kon T, tỉnh Kon T; quan hệ hôn nhân của chị Lvới anh V là hợp pháp.

Quá trình chung sống, mâu tẫn giữa chị Lvới anh V luôn xảy ra, lý do là haybất đồng quan điểm; không hợp t nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã, không tôn trọng nhau, không thể hòa hợp, không có tiếng nói chung, họ đã sống ly thân nhau 02 năm rồi; Hội đồng xét xử, xét cuộc sống vợ chồng chị Lvới anh V không có ý thức hỗ trợ chia sẻ nhau trong công việc, tình cảm giữa chị Lvới anh V thực sự rạn nứt, mục đích hôn nhân không đạt, mâu tẫn đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, chị Lyêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn; mặc dù anh V không tham gia tố tụng; nh theo xác minh tại chính quyền địa phương thì lời khai của chị Ltại hồ sơ vụ án là hoàn toàn có cơ sở, bởi lẽ việc quan tâm về tình cảm của vợ chồng ph diễn ra thường xuyên và l tục, họ ly thân nhau 02 năm rồi, chứng tỏ họ không còn quan tâm đến cuộc sống chung của nhau, chị L không còn quan tâm về tình cảm với anh V trong thời gian ly thân; vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Lxin ly hôn với anh Vlà có cơ sở.

[3] Về con chung: chị Lvới anh V có 02 con chung tên Nguyễn Minh Q, sinh ngày 02/5/2015 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 09/7/2017; nguyện vọng của chị Lxin được nuôi con chung, vì từ nhỏ và hiện nay con chung đang ở với chị, chị L có t nhập ổn định và cũng là nguyện vọng của con chung muốn ở với mẹ; nên giao các con chung cho chị L trông nom - chăm sóc - nuôi dưỡng - giáo dục là có cơ sở.

Chị Lkhông yêu cầu anh V ph đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: chị Lkhông yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét để giải quyết.

[5] Về án phí:chị Lph chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại pên tòa là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28; 35; 39; 147; 170; 195; 203; 205; 220; 227; 228; 233; 235 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 56; 57; 81; 82; 83; 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Trúc L.

Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Trúc L được ly hôn anh Nguyễn N Lê Anh V.

Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Minh Q, sinh ngày 02/5/2015 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 09/7/2017 cho chị L là người được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, cho đến khi 02 cháu (Q + Q) thành niên và tự lập được hoặc đã thành niên nh bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và tài sản để tự nuôi mình.

Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và áp dụng việc cấp dưỡng nuôi con chung;anh V có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở thực hiện quyền này. Nếu người không trực tiếp nuôi con chung lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về án phí: chị L ph chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), nh được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai t tiền tạm ứng án phí số: 0007542 ngày 10/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ch, tỉnh Gi; chị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/4/2024) các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo; anh Vvắng mặt tại pên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gi xét xử P thẩm.

Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người ph thi hành án dân sự có quyền thoả tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ