vanban.org

Bản án 04/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 04/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 09 - 01 - 2024
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Lâm Sơn;

2. Bà Nguyễn Thị Ly.

Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Anh Tuấn, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới

xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 678/2023/TLST-

HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2023 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly

hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

577/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2023, Quyết định hoãn phiên

tòa số 669/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Phạm Văn A, sinh năm 1989; địa chỉ: xóm T, xã N,

huyện N, tỉnh N; vắng mặt.

Bị đơn: Bà Nguyễn An C, sinh năm 1996; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C,

tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ

án, nguyên đơn ông Phạm Văn A trình bày, do tự tìm hiểu nhau, ông A và bà C

kết hôn vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Phước

Tây, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang vào ngày 13/7/2015. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con chung tên Phạm Nguyễn Thảo V, sinh ngày 22/4/2015. Hiện tại, con chung đang được bà C nuôi dưỡng.

Trong thời gian chung sống, ông A và bà C sống hạnh phúc đến tháng 8

năm 2015 thì xảy ra mâu thuẫn, do bà C có người đàn ông khác, ông A bắt gặp và bà C bỏ đi về nhà mẹ ruột tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang sinh sống cho đến nay. Vợ chồng không còn sống chung từ tháng 8 năm 2015 đến nay.

Do tình cảm vợ chồng không còn nên ông A yêu cầu được ly hôn với bà

C; đồng ý để bà C được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 01 con chung tên Phạm Nguyễn Thảo V, sinh ngày 22/4/2015, ông A không cấp dưỡng nuôi dạy con chung; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu

cầu khởi kiện: Giấy chứng nhận kết hôn số 71/2015 quyển số 01/2015, ngày 13/7/2015 do Ủy ban nhân dân xã Mỹ Phước Tây, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang cấp cho ông Phạm Văn A và bà Nguyễn An C (bản chính); giấy khai sinh số 169/2015 quyển số 01/2015, ngày 27/7/2015 do Ủy ban nhân dân xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An cấp cho Phạm Nguyễn Thảo V (bản sao).

- Bị đơn bà Phạm An C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng

mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ yêu cầu như đã cung cấp

trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án

trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn

đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, ông A và bà C kết hôn, có

đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa ông A và bà C hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 8 năm 2015 thì phát sinh mẫu thuẫn, do bà C có người đàn ông khác, ông A bắt gặp và bà C bỏ đi về nhà mẹ ruột tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang sinh sống cho đến nay. Vợ chồng không còn sống chung từ tháng 8 năm 2015 đến nay.

Do tình cảm vợ chồng không còn nên ông A yêu cầu ly hôn với bà C. Ông

A, bà C không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm. Do đó, đề nghị Hội

đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông A đối với bà C theo Điều 56 Luật

Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung, đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông A, giao cháu V cho bà

C tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con, do bà C không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi

con nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật

Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông A đối với bà C; bà C

được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 01 con chung Phạm Nguyễn Thảo V, sinh

ngày 22/4/2015; ông A không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Ông Phạm Văn A khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn An C. Đồng

thời, bà C cư trú trên địa bàn huyện Chợ Mới. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân

và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới

theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1

Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Phạm Văn A có đơn xin xét xử vắng mặt, bà Nguyễn An C đã được

triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến

hành xét xử vắng mặt ông A, bà C theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1

Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân:

Ông A và bà C tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định

của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa ông A và bà C là hợp pháp, được pháp

luật thừa nhận và bảo vệ.

Ông A xác định, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 8 năm 2015

thì xảy ra mâu thuẫn, do bà C có người đàn ông khác, ông A bắt gặp và bà C bỏ

đi về nhà mẹ ruột tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang sinh sống cho đến nay.

Vợ chồng không còn sống chung từ tháng 8 năm 2015 đến nay.

Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống và không còn

sống chung từ tháng 8 năm 2015 cho đến nay. Vợ chồng không quan tâm, chăm

sóc lẫn nhau. Bên cạnh đó, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án

cho bà C nhưng bà C không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của ông A. Cho

nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa ông A, bà C là trầm trọng, tình cảm vợ

chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét

xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông A đối với bà C theo quy định tại khoản 1

Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Ông A xác định trong thời gian chung sống, vợ

chồng có sinh 01 con chung tên Phạm Nguyễn Thảo V, sinh ngày 22/4/2015, ông A đồng ý để bà C được tiếp tục nuôi con chung.

Xét thấy, con chung đang được bà C chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển n

định. Do đó, để đảm bảo n định cuộc sống cho con chung, giúp cháu V phát triển tốt về thể chất, tinh thần, theo ý chí của ông A và bà C cũng không có ý kiến phản đối ý kiến của ông A về việc giao cháu V cho bà C được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử giao cháu V cho bà C tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, do bà C không yêu cầu ông A cấp dưỡng

nuôi dưỡng con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông A xác định không yêu cầu Tòa

án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông A phải chịu án phí hôn nhân sơ

thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bà C không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c các i u

u t H n nhân v ia đình năm 0 ; các i u

147, 227, 228,

Bộ lu t T tụng dân s năm 0 ; đi m a khoản

i u Nghị quyết

0

BTV H ng y 0 tháng năm 0 của y an th ờng vụ qu c hội quy định v m c thu mi n giảm thu nộp quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn A.

1. Về hôn nhân: Ông Phạm Văn A được ly hôn với bà Nguyễn An C.

Giấy chứng nhận kết hôn số 71/2015, quyển số 01/2015, ngày 13/7/2015

do Ủy ban nhân dân xã Mỹ Phước Tây, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang cấp cho ông Phạm Văn A và bà Nguyễn An C không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung:

Bà Nguyễn An C được trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung tên Phạm

Nguyễn Thảo V, sinh ngày 22/4/2015. Ông Phạm Văn A không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

Bà Nguyễn An C cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản

trở ông Phạm Văn A trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có

thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đ i người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về án phí sơ thẩm:

Ông Phạm Văn A phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 00 000 a trăm

nghìn đ ng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn

đ ng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014156 do Chi

cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 25 tháng 10

năm 2023; ông Phạm Văn A đã nộp đủ án phí.

Bà Nguyễn An C không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

4. Thời hạn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử

phúc thẩm của ông Phạm Văn A, bà Nguyễn An C được tính là 15 ngày kể từ

ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Tr ờng hợp ản án quyết định đ ợc thi h nh theo quy định tại i u

u t Thi h nh án dân s thì ng ời đ ợc thi h nh án dân s ng ời phải thi h nh

án dân s có quy n thoả thu n thi h nh án quy n yêu cầu thi h nh án t

nguyện thi h nh án hoặc ị c ỡng chế thi h nh án theo quy định tại các i u

7 v 9 u t thi h nh án dân s ; Thời hiệu thi h nh án đ ợc th c hiện theo quy

định tại i u 0 u t thi h nh án dân s

Cỡ chữ