vanban.org

Bản án 04/2024/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Vy Đức T về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con đối với cháu Vy Nguyễn Trà M.

Về án phí: Anh Vy Đức T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001824 ngày 21/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Ba, tỉnh Phú T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Vy Đức Thống - Vi Thị hải Yến"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Vy Đức T về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con đối với cháu Vy Nguyễn Trà M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BA
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 01- 2024
V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA - TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thanh Loan

Các Hội thẩm nhân dân: ông Kiều Công Ích và ông Phùng Văn Thị

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Hậu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: bà Hoàng Thị Thu Hà- Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 146/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân gia đình; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Anh Vy Đức T, sinh năm 1987

Địa chỉ: Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ

+ Bị đơn: Chị Vi Thị Hải Y, sinh năm 1994

Địa chỉ: Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ

(Anh T có mặt; chị Y vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu bổ sung, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh Vy Đức T trình bày:

Anh T và chị Vi Thị Hải Y trước đây là vợ chồng. Năm 2019, hai bên đã làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 49/2019/DSST- HNGĐ ngày 16/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ đã quyết định: giao cho chị Vi Thị Hải Y trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vy Nguyễn Trà M, sinh ngày 13/8/2012; anh Vy Đức T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vy Nguyễn Gia B, sinh ngày 02/11/2014. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung. Kể từ năm 2019 đến nay, anh vẫn đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Gia B; chị Y trực tiếp nuôi dưỡng cháu M.

Kể từ năm 2022, chị Y đi lấy chồng, không có thời gian chăm sóc bảo ban cháu M học hành và trực tiếp nuôi dưỡng cháu M nữa, hiện nay cháu M đang do bà ngoại là bà Nguyễn Thị L và ông Vi Đức L1 trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy anh T đề nghị xin thay đổi người trực tiếp nuôi con đối với cháu M.

Quá trình giải quyết vụ án, chị Vi Thị Hải Y trình bày:

Năm 2019, khi chị và anh T ly hôn, Tòa án đã giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vy Nguyễn Gia B, sinh năm 2014; chị Y được trực tiếp nuôi dưỡng cháu M. Nay anh T xin thay đổi người trực tiếp nuôi con đối với cháu Vy Nguyễn Trà M, chị Y không nhất trí vì:

Thời điểm sau khi chị ly hôn anh T (năm 2019), chị Y và cháu M về ở chung cùng bà L và ông L1 (bố mẹ đẻ của chị). Cuối năm 2021, chị kết hôn, lập gia đình mới và sinh sống tại khu A, xã Đ (cùng xã với bố mẹ chị), chị vẫn đưa cháu M đi theo ở cùng chị để chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Hiện nay cháu có đi lại ở cả nơi chị sinh sống và bố mẹ chị. Việc cháu đi lại ở nhà ông bà ngoại là do giữa hai gia đình chị và gia đình bố mẹ chị ở gần khu vực với nhau, nên có sự qua lại tình cảm, cháu M muốn ở và sinh hoạt tại nhà ông bà ngoại để tiện cho việc đi lại học tập. Chị vẫn chăm sóc con cái, đảm bảo về điều kiện sinh hoạt, ăn ở và học hành, cháu M vẫn phát triển bình thường về cả thể chất và tinh thần. Cháu M là con gái, cháu vẫn có nguyện vọng xin được ở với chị, vì vậy chị vẫn giữ quan điểm xin được nuôi con, không đồng ý đề nghị của anh T xin thay đổi nuôi con.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký Tòa án và của HĐXX kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa đã tiến hành đúng thủ tục tố tụng và quy định của Pháp luật;

- Về nội dung vụ án:

Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 84 Luật hôn nhân gia đình; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Vy Đức T về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con là cháu V Nguyễn Trà M

+ Về án phí: Anh Vy Đức T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tranh chấp yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con giữa anh Vy Đức T và chị Vi Thị Hải Y là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Chị Y có hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay tại khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 điều 28, khoản 1 điều 35 và khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, chị Y vắng mặt lần thứ nhất (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt), HĐXX tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về yêu cầu của anh T xin được thay đổi người trực tiếp nuôi con, cụ thể xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vy Nguyễn Trà M, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 49/2019/DSST- HNGĐ ngày 16/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ đã quyết định: giao cho chị Vi Thị Hải Y trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vy Nguyễn Trà M, sinh ngày 13/8/2012; anh Vy Đức T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vy Nguyễn Gia B, sinh ngày 02/11/2014.

Kể từ năm 2019 cho đến nay, chị Y vẫn là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu M. Qua xác minh tại khu dân cư và chính quyền địa phương nơi cháu M sinh sống, mặc dù chị Y đã lập gia đình mới, nhưng cháu M vẫn do chị Y và gia đình bố mẹ chị Y cùng chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu M vẫn được học tập, vẫn phát triển bình thường về thể chất và tinh thần. Hiện khu dân cư chưa phát hiện thông tin gì liên quan đến việc ảnh hưởng tiêu cực đối với cháu M khi chị Y trực tiếp chăm sóc cháu.

Tại phiên tòa, anh T thừa nhận anh vẫn đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Vi Nguyễn Gia B1. Anh cũng đã lập gia đình mới, hiện ở cùng với vợ và 02 con riêng của vợ; mức lương hiện nay của anh T bình quân khoảng từ 6.000.000đ đến 7.000.000đ, tiền thu nhập thêm tổng hàng tháng là 15.000.000đ. Anh T cho rằng chị Y không quan tâm chăm sóc con dẫn đến con học hành sa sút yếu kém; khi anh thăm gặp con thì bị gia đình chị Y ngăn cản, tuy nhiên anh không xuất trình được tài liệu chứng cứ gì để chứng minh cho quan điểm trình bày của mình. Trong khi đó, tại phiên tòa anh T vẫn khẳng định, cháu M thỉnh thoảng vẫn đến gia đình anh để chơi với cháu B1, vì vậy, không có cơ sở để khẳng định anh bị cản trở, không được thăm gặp con.

Quá trình giải quyết vụ án, cháu M có trình bày quan điểm vẫn giữ nguyện vọng xin được ở với mẹ.

Xét thấy cháu M là con gái, hiện đang ở độ tuổi phát triển về tâm sinh lý, cần sự chăm sóc gần gũi của người mẹ, đồng thời cần ổn định về nơi sinh sống để tạo điều kiện cho cháu học tập và phát triển. Vì vậy, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Vy Đức T về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con đối với cháu Vy Nguyễn Trà M.

Về án phí: Anh T phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Vy Đức T về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con đối với cháu Vy Nguyễn Trà M.

Về án phí: Anh Vy Đức T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001824 ngày 21/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Anh T đã nộp đủ tiền án phí.

Anh T có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Chị Y vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ