vanban.org

Bản án 04/2024/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mạc Thị B.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Mạc Thị B và ông Đồng Văn T là vợ chồng. Về con chung: Giao cháu Đồng Văn L, sinh ngày 17/02/2006 cho ông Đồng Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; Bà Mạc Thị B không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ông Đồng Văn T và có quyền, nghĩa … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Mạc Thị B - Đồng Văn T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mạc Thị B.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 Về việc thi hành Luật Hôn nhân…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM YÊN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HNGĐ-ST
Ngày 08 - 01 - 2024
“V/v: Không công nhận quan hệ
vợ chồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Tùng.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Ma Thị Như Trang.

2. Bà Nguyễn Hà Linh.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Hương - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Vũ Phương Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 08/01/2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức số hóa vụ án dân sự thụ lý số 291/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2023 về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20/11/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14/12/2023 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Mạc Thị B, sinh năm 1978.

- Bị đơn: Ông Đồng Văn T, sinh năm 1968.

Cùng nơi cư trú: Thôn 3 T, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

(Bà B, ông T đều vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải, nguyên đơn bà Mạc Thị B trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đồng Văn T được tự do tìm hiểu và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1994 đến nay trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc bình thường cùng nhau tại thôn 3 T, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, đến năm 2021 thì ông bà bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, không ai quan tâm và tin tưởng nhau trong cuộc sống. Bà xác định không còn tình cảm với ông T, mâu thuẫn giữa bà với ông T đã quá căng thẳng, trầm trọng, không thể đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình và nuôi dạy con cái. Thực tế ông bà đã sống ly thân nhau từ năm 2021 đến nay mỗi người một công việc không ai quan tâm đến nhau nữa. Bà đề nghị Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà và ông Đồng Văn T theo quy định pháp luật.

- Về con chung: Quá trình chung sống bà và ông Đồng Văn T có 02 người con chung là cháu Đồng Văn B, sinh ngày 15/7/1997 và cháu Đồng Văn L, sinh ngày 17/02/2006. Ly hôn, bà nhất trí để ông Đồng Văn T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Đồng Văn L đến khi trưởng thành và bà không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ông Đồng Văn T; Còn đối với con chung là cháu Đồng Văn B đã trưởng thành trên 18 tuổi sức khỏe phát triển bình thường nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, đất đai và công nợ chung: Bà và ông Đồng Văn T không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, bà Mạc Thị B vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Bà B giữ nguyên ý kiến đã trình bày nêu trên, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì khác.

* Tại biên bản lấy lời khai và biên bản hòa giải, bị đơn ông Đồng Văn T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Mạc Thị B chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1994 đến nay trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc bình thường đến khoảng năm 2020-2021 thì ông bà bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp nhau, vợ chồng không tin tưởng nhau trong cuộc sống. Nay Bà B đề nghị Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông và bà Mạc Thị B thì ông đề nghị giải quyết theo quy định.

- Về con chung: Quá trình chung sống ông và bà Mạc Thị B có 02 con chung là cháu Đồng Văn B, sinh ngày 15/7/1997 và cháu Đồng Văn L, sinh ngày 17/02/2006.

Hiện nay cháu Đồng Văn B đã trưởng thành trên 18 tuổi, sức khỏe phát triển bình thường nên ông không đề nghị Tòa án giải quyết; Còn đối với cháu Đồng Văn L, ông có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành và ông không yêu cầu bà Mạc Thị B phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ông.

- Về tài sản chung, đất đai và công nợ chung: Ông và bà Mạc Thị B không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, ông Đồng Văn T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông T giữ nguyên ý kiến đã trình bày nêu trên, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì khác.

Toà án tiến hành lấy lời khai của cháu Đồng Văn L, sinh ngày 17/02/2006 (là con chung của bà B và ông T). Cháu Linh trình bày khi bố mẹ cháu giải quyết ly hôn, cháu có nguyện vọng được trực tiếp ở cùng với bố cháu là Đồng Văn T, cháu tự nguyện ở với bố cháu và không bị ai ép buộc gì.

Qua xác minh tại địa phương thôn 3 T, xã Y, huyện H được cung cấp thông tin: Hiện nay bà Mạc Thị B và ông Đồng Văn T là công dân đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại thôn 3 T, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Bà Mạc Thị B và ông Đồng Văn T được tự do tìm hiểu và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1994 đến nay trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.

Tòa án tiến hành xác minh tại UBND xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang ngày 16/11/2023 kết quả như sau: Qua kiểm tra Sổ đăng ký kết hôn lưu tại UBND xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang từ trước đến nay không thể hiện việc bà Mạc Thị B có đăng ký kết hôn với ông Đồng Văn T.

Về tài liệu, chứng cứ, các đương sự cung cấp cho Tòa án gồm:

- Nguyên đơn bà Mạc Thị B cung cấp cho Tòa án: 01 Đơn khởi kiện; 01 Đơn xin xác nhận (bản chính); 01 Căn cước công dân của Bà B (Bản sao chứng thực); 01 Giấy xác nhận thông tin về cư trú (bản chính); 02 Giấy khai sinh của cháu B và cháu L (Bản sao chứng thực);

- Bị đơn ông Đồng Văn T cung cấp cho Tòa án: Không.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

- Về tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Đối với các đương sự chấp hành tốt các quy định pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 9, các Điều 14, 53, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Các Điều 28, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 267, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 35/2000/QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Đề nghị: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Mạc Thị B.

- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử không công nhận bà Mạc Thị B và ông Đồng Văn T là vợ chồng.

- Về con chung: Giao cháu Đồng Văn L, sinh ngày 17/02/2006 cho ông Đồng Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà Mạc Thị B không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ông Đồng Văn T và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở; Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

- Về án phí: Bà Mạc Thị B phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; Ông Đồng Văn T không phải chịu án phí.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo bản án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Bà Mạc Thị B có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Đồng Văn T nên xác định đây là vụ án “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Theo thông tin đương sự cung cấp và Tòa án xác minh thì hiện nay bị đơn ông Đồng Văn T là công dân có đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại thôn 3 T, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa: Tại phiên tòa các đương sự đều vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

. Về quan hệ hôn nhân: Bà Mạc Thị B và ông Đồng Văn T chung sống với nhau từ năm 1994 đến nay, trước khi chung sống ông bà được tự do tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán của địa phương nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà B và ông T là không hợp pháp. Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý” và tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số: 35/2000/QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội quy định: “Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01/01/2003 trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết. Từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng”. Như vậy, bà B và ông T chung sống với nhau từ năm 1994 đến nay không có đăng ký kết hôn mặc dù có đủ điều kiện kết hôn, xong các bên không thực hiện nghĩa vụ đăng ký kết hôn mà vẫn chung sống cùng nhau là hôn nhân bất hợp pháp, không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Thực tế bà B và ông T đã sống ly thân nhau từ năm 2021 đến nay, trong thời gian sống ly thân bà B và ông T không quan tâm, chăm sóc gì đến nhau, vì vậy bà B làm đơn yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà với ông T. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên cũng đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà B và ông T. Xét thấy yêu cầu của bà Mạc Thị B và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận. Do vậy, Hội đồng xét xử cần xử không công nhận bà Mạc Thị B và ông Đồng Văn T là vợ chồng là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết 35/2000/QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội và khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Về con chung: Bà Mạc Thị B và ông Đồng Văn T có 02 con chung là cháu Đồng Văn B, sinh ngày 15/7/1997 và cháu Đồng Văn L, sinh ngày 17/02/2006.

Đối với con chung là cháu Đồng Văn B đã đủ 18 tuổi trưởng thành, sức khỏe phát triển bình thường và có khả năng tự lao động được nên bà B và ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với con chung là cháu Đồng Văn L: Ông Đồng Văn T có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Đồng Văn L đến khi trưởng thành và ông không yêu cầu bà B phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ông; Bà Mạc Thị B cũng nhất trí để ông Đồng Văn T được trực tiếp nuôi cháu L đến khi trưởng thành và bà không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ông T; Cháu Đồng Văn L có nguyện vọng được ở cùng với bố đẻ là ông Đồng Văn T. Để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của cháu L, qua xem xét ý kiến của bà B, ông T và cháu L. Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao cháu Đồng Văn L, sinh ngày 17/02/2006 cho ông Đồng Văn T được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và bà Mạc Thị B không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ông Đồng Văn T là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về tài sản chung, đất đai và công nợ chung: Bà Mạc Thị B và ông Đồng Văn T cùng xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về án phí: Bà Mạc Thị B phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; Ông Đồng Văn T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 9, các Điều 14, 53, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Các Điều 28, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 267, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 35/2000/QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mạc Thị B.

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Mạc Thị B và ông Đồng Văn T là vợ chồng.

2. Về con chung: Giao cháu Đồng Văn L, sinh ngày 17/02/2006 cho ông Đồng Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; Bà Mạc Thị B không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ông Đồng Văn T và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở; Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Bà Mạc Thị B phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo hình thức nộp trực tuyến tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000464 ngày 30/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Bà Mạc Thị B đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

+ Ông Đồng Văn T không phải chịu án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Bà Mạc Thị B và ông Đồng Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ