- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 04/2024/DS-ST Ngày: 23/01/2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Thường;
2. Ông Phan Minh Quốc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 253/ 2023/ TLST- DS ngày 18/10/2023, về việc: "Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản", theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2023/QĐXXST-DS ngày 27/12/2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2024/QĐST-DS ngày 12/10/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Dương Sanh H, sinh năm 1973 (vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Trung Bình Nhất, xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Số điện thoại: xxxxxxxxxx
* Bị đơn:
1/ Bà Trần Thị Lệ Th, sinh năm 1966 (vắng mặt)
2/ Chị Trần Thị Kim N, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp Tây Bình, xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
* Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Tây Bình, xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ nguyên đơn ông Dương Sanh H trình bày: Ngày 03/4/2023, ông Dương Sanh H có cho bị đơn là bà Trần Thị Lệ Th, chị Trần Thị Kim N vay số tiền 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng), hai bên giao tiền và có làm biên nhận cùng ngày, bị đơn vay tiền sử dụng vào mục đích để sinh hoạt trong gia đình. Chữ ký, chữ viết họ tên và dấu vân tay trong hợp đồng trên là của bà Th, chị N viết, ký, lăn tay. Nội dung biên nhận nợ ngày 03/4/2023 ghi bà Th, chị N có nợ ông H số tiền là 35.000.000 đồng, lãi trả hàng tháng và hẹn đến ngày 03/12/2023 sẽ trả gốc đầy đủ, lãi suất là 20%/năm. Từ ngày vay đến nay, dù ông H đã liên hệ đòi nhiều lần nhưng bị đơn không trả lãi hàng tháng đúng hạn. Nhận thấy bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nay nguyên đơn ông Dương Sanh H yêu cầu bị đơn bà Trần Thị Lệ Th, chị Trần Thị Kim N phải liên đới trả cho ông số tiền nợ vay gốc là 35.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật tính từ ngày 03/4/2023.
Bị đơn bà Trần Thị Lệ Th, chị Trần Thị Kim N đã được Tòa án thực hiện việc cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để bà thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu cầu của nguyên đơn, nhưng bà Trần Thị Lệ Th, chị Trần Thị Kim N vẫn vắng mặt không tham gia tố tụng và không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình nên không ghi nhận được ý kiến của bà Trần Thị Lệ Th, chị Trần Thị Kim N.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt; các bị đơn và người làm chứng vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là tuân thủ đúng quy định pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Trần Thị Lệ Th, chị Trần Thị Kim N phải liên đới trả cho ông Dương Danh Hùng số tiền nợ vay gốc là 35.000.000 đồng, nguyên đơn không yêu cầu tính lãi nên không xem xét. Yêu cầu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, bị đơn có địa chỉ cư trú trên địa bàn huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Tại phiên tòa bị đơn bà Trần Thị Lệ Th, chị Trần Thị Kim N vắng mặt không có lý do là từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự; Nguyên đơn ông Dương Sanh H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và các bị đơn.
Về nội dung:
Xét yêu cầu bị đơn trả khoản tiền nợ gốc:
Xét thấy biên nhận nợ ngày 03/4/2023 do ông H xuất trình có chữ viết, chữ ký, dấu vân tay của bị đơn bà Trần Thị Lệ Th, chị Trần Thị Kim N và có chữ ký, dấu vân tay của người làm chứng bà Nguyễn Thị Thúy A; trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án bà Th, chị N không có ý kiến gì đối với biên nhận nợ này nên việc bà Th, chị N còn nợ ông H số tiền 35.000.000 đồng là có thật và theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là việc không cần phải chứng minh, có cơ sở xác định giữa ông H và bà Th, chị N có xác lập hợp đồng vay tài sản. Hợp đồng vay này của ông H và bà Th, chị N, là những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự giao kết hợp đồng, xác lập trên cơ sở tự nguyện, nội dung không vi phạm điều cấm và không trái pháp luật; hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên hợp đồng này là hợp pháp theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, các bên phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình đã giao kết.
Xét thấy, hai bên thỏa thuận thời hạn trả gốc là ngày 03/12/2023, tính đến thời điểm hiện tại đã đến hạn thanh toán nợ gốc, tuy nhiên bà Th, chị N đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ lãi hàng tháng cũng như thanh toán nợ gốc cho bên vay theo thỏa thuận dù ông H đã đòi nhiều lần là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ông H khởi kiện yêu cầu bà Th, chị N trả tiền vốn 35.000.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 466, khoản 2 Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn: Theo biên nhận nợ ngày 03/4/2023 thì lãi suất vay thỏa thuận giữa hai bên là 20%/năm (1,67%/tháng), lãi trả hàng tháng, thời hạn trả gốc vào ngày 03/12/2023. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là hợp đồng vay có lãi, mức lãi suất phù hợp với quy định của pháp luật và là hợp đồng vay có kỳ hạn.
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lãi đối với số nợ gốc là 35.000.000 đồng theo quy định của pháp luật tính từ ngày 03/4/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 23/01/2024) là 09 tháng 20 ngày. Xét thấy đến hạn trả nợ bên vay bà Th, chị N không trả được nợ nên bên cho vay là ông H có quyền yêu cầu bà Th, chị N ngoài việc thanh toán nợ gốc còn phải trả thêm khoản tiền lãi là phù hợp với quy định tại Điều 463 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Như vậy, số tiền lãi bà Th, chị N phải trả cho ông H là 5.736.111 đồng (35.000.000 đồng x 1,67%/tháng x 09 tháng 20 ngày). Tổng số tiền vốn và lãi bà Th, chị N phải trả cho ông H là 40.736.111 đồng (trong đó vốn gốc là 35.000.000 đồng, lãi là 5.736.111 đồng).
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải nộp toàn bộ án phí là 5% giá ngạch giá trị tài sản tranh chấp theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.
Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định của Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, khoản 2 Điều 92, Điều 144, Điều 147, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 463, Điều 466, khoản 1 Điều 468 và khoản 2 Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc bị đơn bà Trần Thị Lệ Th, chị Trần Thị Kim N có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn ông Dương Sanh H tổng số tiền nợ gốc, lãi là 40.736.111 đồng (bốn mươi triệu, bảy trăm ba mươi sáu ngàn, một trăm mười một đồng), trong đó nợ gốc là 35.000.000 đồng và nợ lãi là 5.736.111 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bị đơn còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành án được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Trần Thị Lệ Th, chị Trần Thị Kim N phải nộp 2.036.806 đồng (hai triệu, không trăm ba mươi sáu ngàn, tám trăm lẻ sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn ông Dương Sanh H không phải chịu án phí nên được nhận lại 875.000 đồng (tám trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012163 ngày 18/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở UBND xã (phường, thị trấn) nơi đương sự cư trú để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Thoại Sơn; - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Cẩm Xuyên Trần Thị Cẩm Xuyên |