vanban.org

Bản án 04/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bị đơn ông Hồ Công T, bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng A tiền nợ tổng cộng là: 2.

Trường hợp ông Hồ Công T, bà Nguyễn Thị H không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì xử lý tài sản bảo đảm theo các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HCT 170822A/TC và HCT 170822B/TC ký cùng ngày 17/8/2022 là: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 697687 do UBND huyện Bắc… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng A"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bị đơn ông Hồ Công T, bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng A tiền nợ tổng cộng là: 2.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC BÌNH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/DS-ST
Ngày 31-01-2024
V/v tranh chấp hợp đồng
tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Thanh Trúc Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1-Bà Nguyễn Thị Phương Dung

2-Bà Phạm Thị Bích Lệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hoàng Bảo Vân-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Vân-Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 123/2023/TLST-DS ngày 04 tháng 10 năm 2023, về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2023/QĐXXST-DS ngày 18/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/QĐST-DS ngày 12/01/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng A

Địa chỉ: Số 3 A, pH B, quận D, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn V – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Văn Th – Chức vụ: Giám đốc;

Người nhận ủy quyền lại: Ông Nguyễn Lê Q- Chức vụ: Phó Giám đốc (Có mặt);

Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn S, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn:

+ Ông Hồ Công T, sinh năm 1981 (Vắng mặt);

+ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1979 (Có mặt);

Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn S, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đại diện nguyên đơn trình bày: Vào ngày 25/08 2022 Ông Hồ Công T và Bà Nguyễn Thị H có vay Ngân hàng A theo Hợp đồng tín dụng số 4805LAV202202046 với tổng số tiền gốc: 2.500.000.000 đồng, để dùng vào mục đích: Trồng xoài, dừa và mua sắm vật dụng gia đình; lãi suất cho vay: 10.5%/năm. Thời hạn vay là 72 tháng, hạn trả nợ được phân thành 06 kỳ, chia làm 06 năm cụ thể: + Kì 1 - 25/08/2023: 50.000.000 đồng; + Kì 2 - 25/08/2024: 100.000.000 đồng; + Kì 3 - 25/08/2025: 150.000.000 đồng; + Kì 4 - 25/08/2026: 200.000.000 đồng; + Kì 5 - 25/08/2027: 250.000.000 đồng; +Kì 6 - 25/08/2028: 1.750.000.000 đồng. Nghĩa vụ của hợp đồng tín dụng 4805LAV202202046 ký ngày 25/08/2022 được bảo đảm bằng giá trị tài sản theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất cụ thể như sau: + Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HCT 170822A/TC ký ngày 17/08/2022 là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 697687 do UBND huyện Bắc Bình cấp ngày 21/01/2015. + Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HCT 170822B/TC ký ngày 17/08/2022 là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 065079 do UBND huyện Bắc Bình cấp ngày 07/12/2010. *Tài sản giữ hộ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng số: U 231988 do UBND huyện Bắc Bình cấp ngày 13/08/2002 và cập nhật ngày 22/11/2007. Ngày 26/08/2023 ông Hồ Công T, bà Nguyễn Thị H đã quá hạn gốc: 50.000.000đồng và tiền lãi ước tính: 67.602.740 theo Hợp đồng tín dụng số: 4805LAV202202046, do đó Ngân hàng đã chuyển khoản nợ của ông Hồ Công T, bà Nguyễn Thị H sang nợ quá hạn. Trong suốt thời gian vay, Ngân hàng đã nhiều lần làm việc yêu cầu ông Hồ Công T và bà Nguyễn Thị H trả nợ gốc và lãi đúng thời hạn quy định và ông bà cũng đã làm bản cam kết trả nợ (theo các biên bản làm việc ngày 15/05/2023; 25/05/2023; 30/05/2023; 05/06/2023; 24/07/2023; Giấy báo nợ quá hạn ngày 30/08/2023; Giấy mời các ngày 25/08/2023; 30/08/2023) nhưng ông Hồ Công T và bà Nguyễn Thị H vẫn không chấp hành đúng theo cam kết. Từ ngày vay đến nay ông Hồ Công T, bà Nguyễn Thị H trả được 201.118.897 đồng tiền lãi. Đến ngày 31/01/2024, ông Hồ Công T, bà Nguyễn Thị H còn nợ tổng cộng: 2.569.933.638đồng, gồm: Nợ gốc 2.450.000.000đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 31/01/2024 là 119.933.638 đồng và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 4805LAV202202046 ngày 25/8/2022. Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu ông Hồ Công T, bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm hoàn trả cho ngân hàng số tiền tổng cộng là: 2.569.933.638 đồng, gồm: Nợ gốc là: 2.450.000.000đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 31/01/2024 là: 119.933.638 đồng và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 4805LAV202202046 ngày 25/8/2022.

Trường hợp ông Hồ Công T, bà Nguyễn Thị H không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì đề nghị Tòa án xử lý tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HCT 170822A/TC và HCT 170822B/TC cùng ký ngày 17/8/2022 hoặc các tài sản khác để thu hồi nợ.

Khi ký kết hợp đồng tín dụng, các bên đã có giao ước riêng bằng một hợp đồng giữ hộ tài sản. Ngân hàng sẽ cùng ông Hồ Công T, bà Nguyễn Thị H thỏa thuận về việc trả lại tài sản giữ hộ là Giấy chứng nhận quyền sử dụng số: U 231988 do UBND huyện Bắc Bình cấp ngày 13/08/2002 và cập nhật ngày 22/11/2007 cho ông Hồ Công Tôn, bà Nguyễn Thị H.

Bị đơn-bà Nguyễn Thị H trình bày: Thống nhất với ý kiến trình bày của đại diện ngân hàng là hiện nay Bà và ông Hồ Công T còn nợ Ngân hàng A số tiền 2.569.933.638 đồng, gồm: Nợ gốc là: 2.450.000.000đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 31/01/2024 là: 119.933.638 đồng và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 4805LAV202202046 ngày 25/8/2022. Nay, ngân hàng yêu cầu Bà và ông T trả toàn bộ số nợ trên, Bà đồng ý. Tuy nhiên, hiện nay Bà rất khó khăn nên mong ngân hàng tạo điều kiện thuận lợi nhất để Bà trả nợ.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 375, 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 9, khoản 2 Điều 27, Điều 60 và Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-QH14 ngày 30/12/2016 về việc quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng A.

- Buộc bà Nguyễn Thị H và ông Hồ Công T phải liên đới trả cho Ngân hàng A số tiền tổng cộng 2.569.933.638 đồng, gồm: Nợ gốc 2.450.000.000đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 31/01/2024 là 119.933.638 đồng và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 4805LAV202202046 ngày 25/8/2022.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về Thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A yêu cầu bà Nguyễn Thị H và ông Hồ Công T trả số tiền vay còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 4805LAV202202046 ngày 25/8/2022, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Về thẩm quyền: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Mặt khác, bị đơn có địa chỉ nơi cư trú tại huyện B, tỉnh Bình Thuận, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc v ng m t ị đơn ông Hồ Công T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông T đến Tòa để lấy lời khai, hòa giải và tiến hành các thủ tục tố tụng khác, nhưng ông T không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án. Do đó, Tòa án không lấy lời khai cũng như không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được, nên đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi hoãn phiên tòa vào ngày 12/01/2024, Tòa án đã tống đạt quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho ông T theo quy định, nhưng ông T vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông T là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về phạm vi khởi kiện: Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng số: U 231988 do UBND huyện Bắc Bình cấp ngày 13/08/2002 và cập nhật ngày 22/11/2007. Đây là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ngân hàng A giữ hộ, các đương sự chỉ có ý kiến mà không tranh chấp vấn đề này. Đồng thời, Đại diện Ngân hàng A có ý kiến là để Ngân hàng A và ông Hồ Công T, bà Nguyễn Thị H thỏa thuận giải quyết, vì khi ký kết hợp đồng tín dụng, các bên đã có giao ước riêng bằng một hợp đồng giữ hộ tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự. [2]. Về nội dung vụ án: Ngân hàng A yêu cầu ông Hồ Công T, bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm hoàn trả cho số tiền 2.569.933.638 đồng, gồm: Nợ gốc là: 2.450.000.000đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 31/01/2024 là: 119.933.638 đồng và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 4805LAV202202046 ngày 25/8/2022. Trường hợp ông Hồ Công T, bà Nguyễn Thị H không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì đề nghị Tòa án xử lý tài sản bảo đảm theo các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HCT 170822A/TC và HCT 170822B/TC ký cùng ngày 17/8/2022. Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán nợ vay, ông T, bà H vẫn có nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết toàn bộ nợ vay cho Ngân hàng A. Bà Nguyễn Thị H: Thống nhất với ý kiến trình bày của đại diện nguyên đơn. Bà đồng ý trả số tiền nợ gốc và lãi mà Ngân hàng A yêu cầu, nhưng do đang gặp khó khăn về tài chính nên đề nghị ngân hàng tạo điều kiện về thời gian để Bà trả nợ. Xét ý kiến của các bên đương sự, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bà Nguyễn Thị H thừa nhận còn nợ số tiền tổng cộng là: 2.569.933.638 đồng, gồm: Nợ gốc là: 2.450.000.000đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 31/01/2024 là: 119.933.638 đồng và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 4805LAV202202046 ngày 25/8/2022. Bà đồng ý trả toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi cho Ngân hàng A. Ý kiến của bà H là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, phù hợp với lời khai đại diện nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Khi vay, ông Hồ Công T, bà Nguyễn Thị H là vợ chồng, nên Ngân hàng yêu cầu ông Hồ Công T, bà Lê Thị H liên đới trả nợ cho Ngân hàng là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải buộc Nguyễn Thị H, ông Hồ Công T phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng A tiền nợ tổng cộng là: 2.569.933.638 đồng, gồm: Nợ gốc là: 2.450.000.000đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 31/01/2024 là: 119.933.638 đồng và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 4805LAV202202046 ngày 25/8/2022, kể từ ngày 01/02/2024 cho đến khi trả hết nợ gốc.

Do hợp đồng tín dụng có thế chấp tài sản để đảm bảo theo đúng quy định, nên nếu trường hợp ông Hồ Công T, bà Nguyễn Thị H không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì cần phải xử lý tài sản bảo đảm theo các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HCT 170822A/TC và HCT 170822B/TC cùng ký ngày 17/8/2022 là: Quyền sử dụng đất số theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 697687 do UBND huyện Bắc Bình cấp ngày 21/01/2015; quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 065079 do UBND huyện Bắc Bình cấp ngày 07/12/2010.

Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán nợ vay, ông T, bà H vẫn có nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết toàn bộ nợ vay cho Ngân hàng A.

. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Hồ Công T, bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban TH vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 37, Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-QH14 ngày 30/12/2016 về việc quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bị đơn ông Hồ Công T, bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng A tiền nợ tổng cộng là: 2.569.933.638 đồng, gồm: Nợ gốc là: 2.450.000.000đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 31/01/2024 là: 119.933.638 đồng và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 4805LAV202202046 ngày 25/8/2022, kể từ ngày 01/02/2024 cho đến khi trả hết nợ gốc.

Trường hợp ông Hồ Công T, bà Nguyễn Thị H không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì xử lý tài sản bảo đảm theo các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HCT 170822A/TC và HCT 170822B/TC ký cùng ngày 17/8/2022 là: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 697687 do UBND huyện Bắc Bình cấp ngày 21/01/2015; quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 065079 do UBND huyện Bắc Bình cấp ngày 07/12/2010. Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán nợ vay, ông Hồ Công T, bà Nguyễn Thị H vẫn có nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết toàn bộ nợ vay cho Ngân hàng A. 2. Về án phí:

- Buộc ông Hồ Công T, bà Nguyễn Thị H phải chịu 83.398.673đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Hoàn trả lại cho Ngân hàng A 41.766.000đ tiền tạm ứng phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001339 ngày 04/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình. Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (31/01/2024). Bị đơn ông Hồ Công T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ