vanban.org

Bản án 04/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Hoàng Anh.

Buộc ông Cao Văn Y trả cho ông Huỳnh Hoàng A tiền mua thức ăn nuôi tôm và thuốc nuôi trồng thuỷ sản với số tiền 1.318.400.000 đồng. Kể từ ngày bản án sơ thẩm được xét xử cho đến khi thi hành xong khoản nợ này hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán thức ăn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Hoàng Anh.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUYÊN HẢI
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/DS-ST
Ngày: 04-3-2024
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Truyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu

2. Ông Trần Văn Nước

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Khánh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

Ngày 04 tháng 3 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 208/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Hoàng A sinh năm 1977; trú tại: ấp N, xã M, thị xã P, tỉnh Trà Vinh; có mặt.

- Bị đơn: Ông Cao Văn Y sinh năm 1985; trú tại: ấp M, xã N, thị xã P, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 09/10/2023 và lời khai tại phiên toà nguyên đơn ông Huỳnh Hoàng A trình bày:

Vào tháng 02/2022 giữa ông và ông Cao Văn Y có hợp đồng bằng lời nói thoả thuận mua bán thức ăn nuôi tôm và thuốc nuôi trồng thuỷ sản như sau: ông bán thức ăn nuôi tôm, thuốc nuôi trồng thuỷ sản cho ông Y đến hết vụ tôm năm 2022 ông Y sẽ thanh toán hết số tiền nợ cho ông. Đến ngày 11/7/2022 giữa ông với ông Y đối chiếu công nợ thì ông Y còn nợ ông tổng số tiền 1.418.400.000 đồng và đồng thời ông Y viết giấy nhận nợ ngày 11/7/2022 là còn nợ ông số tiền 1.418.400.000 đồng. Đến ngày 12/7/2022 ông Y đã thanh toán cho ông được số tiền 100.000.000 đồng, còn lại số tiền 1.318.400.000 đồng. Ông đã nhiều lần yêu cầu ông Y thanh toán số tiền nợ còn lại 1.318.400.000 đồng nhưng ông Y hẹn nhiều lần nhưng không thanh toán và hiện nay ông Y đã bỏ nơi cư trú đi khỏi địa phương cố tình không trả nợ cho ông.

Nay ông yêu cầu ông Y trả số tiền 1.318.400.000 đồng cho ông, không yêu cầu tính lãi.

- Về tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn ông Huỳnh Hoàng Anh cung cấp cho Toà án: Giấy nợ ghi ngày 11/7/2022 có chữ ký, ghi họ và tên của ông Huỳnh Hoàng A và ông Cao Văn Y. Theo giấy nợ thể hiện: ông Y nợ tiền thức ăn nuôi tôm và thuốc nuôi trồng thuỷ sản của ông A với số tiền 1.418.400.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ và hoà giải, nhưng ông Y vẫn vắng mặt không có lý do. Toà án đã lập biên bản không tiến hành hoà giải được và thông báo kết quả phiên họp cho ông Y được biết. Tuy nhiên ông Y không có ý kiến; không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án. Tại phiên tòa được mở lần thứ hai, tuy nhiên ông Y đều vắng mặt.

Tòa án không có tiến hành thu thập, tài liệu chứng cứ nên vụ án không thuộc trường hợp phải có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến, yêu cầu của đương sự; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: nguyên đơn ông A khởi kiện yêu cầu ông Y trả tiền nợ mua thức ăn nuôi tôm và thuốc nuôi trồng thuỷ sản; bị đơn ông Y có địa chỉ cư trú ấp M, xã N, thị xã P. Căn cứ Điều 26, 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải có thẩm quyền giải quyết.

Về sự vắng mặt của đương sự: Theo giấy nợ được ký kết giữa ông A và ông Y thể hiện địa chỉ của ông Y là tại ấp M, xã N, thị xã P, tỉnh Trà Vinh. Hiện nay ông Y đã thay đổi nơi cư trú, nhưng không thông báo cho nguyên đơn biết về nơi cư trú mới của ông Y ở đâu là thuộc trường hợp bị đơn ông Y cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, đây là phiên toà được mở lần thứ hai nhưng ông Y đều vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Y.

Xét yêu cầu khởi hiện của nguyên đơn ông Huỳnh Hoàng A, Hội đồng xét xử xét thấy: theo chứng cứ nguyên đơn ông A cung cấp là giấy nợ; kèm theo sổ ghi số lượng hàng hoá mua bán, giao nhận thể hiện: ông A có bán thức ăn nuôi tôm và thuốc nuôi trồng thuỷ sản cho Y trong năm 2022. Đến ngày 11/7/2022 giữa ông A và ông Y có đối chiếu công nợ và ông Y có làm giấy nhận nợ ông A tổng số tiền 1.418.400.000 đồng và đến ngày 12/7/2022 ông Y có trả cho ông A số tiền 100.000.000 đồng. Qua xem xét, đánh giá toàn diện chứng cứ nguyên đơn cung cấp, lời trình bày của nguyên đơn ông A, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: ông Y còn nợ tiền mua thức ăn nuôi tôm và thuốc nuôi trồng thuỷ sản của ông A với số tiền 1.318.400.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Y nhưng đều vắng mặt, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và bản tự khai cho Tòa án nên xem như ông Y đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Từ cơ sở phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về tiền lãi do nguyên đơn ông A không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: nguyên đơn ông A không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 25.776.000 đồng theo lai thu số 0017355 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duyên Hải. Bị đơn ông Y phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 51.552.000 đồng (518.400.000 đồng x 3 % + 36.000.000 đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 430, 433, 440, 470 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Hoàng Anh.

- Buộc ông Cao Văn Y trả cho ông Huỳnh Hoàng A tiền mua thức ăn nuôi tôm và thuốc nuôi trồng thuỷ sản với số tiền 1.318.400.000 đồng.

Kể từ ngày bản án sơ thẩm được xét xử cho đến khi thi hành xong khoản nợ này hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Cao Văn Y phải chịu 51.552.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Huỳnh Hoàng A không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Huỳnh Hoàng A tiền tạm ứng án phí là 25.776.000 đồng theo lai thu số 0017355 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duyên Hải.

3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ