vanban.org

Bản án 04/2023/LĐ-PT — Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 17/11/2023 Lao động Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/11/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Trần Khải Phong. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 03/2023/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Phong - Công ty DVTNMT"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/LĐ-PT
Ngày 17-11-2023
V/v Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Phương Loan

Các Thẩm phán:

Ông Đinh Cẩm Đào

Ông Nguyễn Thành Lập

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Trâm là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Bùi Trung Biển – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/2023/TLPT-LĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc: Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Do bản án lao động sơ thẩm số 03/2023/LĐ-ST ngày 01 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 02/2023/QĐ-PT ngày 26 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Khải P, sinh năm 1984 (có mặt).

Cư trú tại: Số N18 khu đô thị Bạch Đằng, ấp Bà Điều, xã Lý Văn Lâm, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Công ty TNHH Dịch vụ Tài nguyên & Môi trường Cà M.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Minh Sơn, sinh năm 1952 – Chúc vụ: Giám đốc (có mặt).

Địa chỉ: Số 25-27 đường Âu Cơ, khóm 5, phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn là ông Trần Khải Phong.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn, ông Trần Khải P trình bày:

Ngày 01/01/2011 ông có ký hợp đồng lao động thử việc với công ty TNHH Dịch vụ Tài nguyên & Môi trường Cà Mau (gọi tắt là Công ty) thời gian 02 tháng. Đến ngày 01/9/2011 ông ký hợp đồng lao động số 03/HĐLĐ loại hợp đồng không xác định thời hạn. Mức lương cơ bản ông được nhận trước khi nghĩ việc là 5.500.000 đồng/tháng. Ông làm việc tại Công ty đến hết tháng 06/2021. Ngày 01/7/2021 ông nhận được Thông báo số 01/2021/TB-TNMTCM của Công ty cho ông nghỉ việc. Ngày 02/7/2021 ông nhận quyết định chấm dứt hợp đồng lao động số 01/2021/QĐ-TNMTCM. Sau khi nhận quyết định chấm dứt hợp đồng lao động Công ty chi trả tiền trợ cấp mất việc số tiền là 22.000.000 đồng ông đồng ý và có yêu cầu được nhận tiền bằng văn bản gửi qua Zalo cho bà Nguyễn Thị Băng Tâm là kế toán Công ty được bà Tâm hứa sẽ chuyển tiền chi trả. Ông nhận sổ bảo hiểm xã hội để đi chốt sổ và làm thủ tục nhận chế độ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp mới phát hiện Công ty đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp cho ông thiếu 01 tháng là tháng 06/2021. Ông có yêu cầu công ty nộp tiền bảo hiểm bổ sung tháng 6/2021 cho ông nhưng Công ty không thực hiện. Do đó, ông làm đơn và thống nhất chốt sổ với cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Cà Mau đến tháng 5/2021 để ông được nhận tiền bảo hiểm xã hội một lần vào tháng 8/2022 với số tiền 69.257.036 đồng. Do số tiền Công ty thống nhất chi trả tiền trợ cấp mất việc cho ông là 22.000.000 đồng nhưng Công ty không thực hiện việc chi trả nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án:

Hủy quyết định về việc chấm dứt hợp đồng lao động số 01/2021/QĐ-TNMTCM ngày 02/7/2021. Không yêu cầu nhận ông lại làm việc.

Buộc Công ty trả tiền lương trong thời gian không được làm việc là 16 tháng từ tháng 7/2021 đến tháng 11/2022 mỗi tháng 5.500.000 đồng bằng 88.000.000 đồng.

Buộc công ty nộp bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 6/2021 đến khi Tòa án xét xử.

Buộc công ty chi trả khoản trợ cấp mất việc làm cho ông là 22.000.000 đồng.

Vào ngày 26/3/2023, Công ty đã chuyển khoản để chi trả khoản trợ cấp mất việc làm cho ông là 22.000.000 đồng, do đó tại phiên tòa sơ thẩm, ông P xin rút lại yêu cầu Công ty chi trả khoản trợ cấp mất việc làm số tiền 22.000.000 đồng. Các yêu cầu khác ông P giữ nguyên.

Bị đơn: Công ty TNHH Dịch vụ Tài nguyên và Môi trường Cà Mau do người đại diện theo pháp luật của Công ty là ông Nguyễn Minh Sơn trình bày:

Công ty thực hiện thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động với ông P là do ông P là nguời soạn thảo các thông báo, quyết định để trình ông ký. Sau khi ông P nhận quyết định chấm dứt hợp đồng lao động ông P đồng ý và không có khiếu nại, Công ty thống nhất chi trả khoản trợ cấp mất việc làm cho ông P là 22.000.000 đồng ông P cũng thống nhất nhưng do Công ty khó khăn do dịch covid nên Công ty chưa chi trả tiền trợ cấp mất việc làm cho ông P. Sau khi nghỉ việc, ông P đi chốt sổ bảo hiển xã hội thì phát hiện Công ty nộp bảo hiểm xã hội cho ông P đến tháng 5/2021 là thiếu tháng 6/2021 nhưng ông P cũng đã thống nhất chốt sổ tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Cà Mau để nhận tiền bảo hiểm xã hội một lần. Do Công ty mất cân đối nên chưa chi trả tiền trợ cấp mất việc làm cho ông P là 22.000.000 đồng nên ông P khởi kiện Công ty để yêu cầu Hủy quyết định về việc chấm dứt hợp đồng lao động số 01/2021/QĐ-TNMTCM ngày 02/7/2021, không yêu cầu nhận ông lại làm việc. Đồng thời yêu cầu Công ty trả tiền lương trong thời gian không được làm việc là 16 tháng tính từ tháng 7/2021 đến 11/2022 mỗi tháng 5.500.000 đồng bằng 88.000.000 đồng. Buộc Công ty nộp bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 6/2021 đến khi Tòa án xét xử. Yêu cầu công ty chi trả khoản trợ cấp mất việc làm cho ông là 22.000.000 đồng. Công ty không đồng ý. Công ty chỉ chấp nhận chi trả khoản trợ cấp mất việc làm cho ông P là 22.000.000 đồng, vào ngày 26/3/2023 Công ty đã chuyển trả vào tài khoản của ông P 22.000.000 đồng. Hiện nay, Công ty chỉ đồng ý bồi thường thiệt hại cho ông P số tiền là 8.250.000 đồng là tiền Công ty có vi phạm thời gian báo trước khi ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông P là 45 ngày và đồng ý đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho ông P tháng 6/2021. Công ty không đồng ý các yêu cầu còn lại của ông P.

Tại bản án lao động sơ thẩm số 03/2023/LĐ-ST ngày 01 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Khải P.

Hủy quyết định số 01/2021/QĐ-TNMTCM ngày 02/7/2021 của Công ty TNHH Dịch vụ Tài nguyên và Môi trường Cà Mau về việc chấm dứt hợp đồng lao động.

Buộc Công ty TNHH Dịch vụ Tài nguyên và Môi trường Cà Mau phải bồi thường thiệt hại cho ông Trần Khải P số tiền 8.250.000 đồng.

Buộc Công ty TNHH Dịch vụ Tài nguyên và Môi trường Cà Mau nhận lại sổ bảo hiểm từ ông Trần Khải P, đối chiếu sổ, thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chốt sổ tính từ tháng 6 năm 2021 đến ngày 15 tháng 8 năm 2021 và trả sổ bảo hiểm xã hội cho ông P theo quy định của pháp luật.

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Khải P về việc buộc Công ty TNHH Dịch vụ Tài nguyên và Môi trường Cà Mau trả số tiền lương trong thời gian không được làm việc tính từ ngày 16 tháng 8 năm 2021 đến tháng 11 năm 2022 và nộp tiền bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp từ ngày 16 tháng 8 năm 2021 đến khi xét xử.

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Trần Khải P buộc Công ty TNHH Dịch vụ Tài nguyên và Môi trường Cà Mau trả tiền trợ cấp mất việc 22.000.000 đồng.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 11/8/2023 nguyên đơn là ông Trần Khải Phong kháng cáo yêu cầu:

Chấm dứt hợp đồng lao động giữa anh Trần Khải Phong với Công ty TNHH Dịch vụ Tài nguyên và Môi trường Cà Mau;

Yêu cầu tính mức lương để bồi thường thiệt hai cho ông P từ mức lương 5.500.000 đ/tháng thành mức lương mới là 9.180.000 đồng/tháng.

Buộc Công ty TNHH Dịch vụ Tài nguyên và Môi trường Cà Mau tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp cho ông P từ tháng 6/2021 đến khi chấm dứt hợp đồng lao động giữa hai bên.

Buộc Công ty trả tiền lương cho ông P trong những ngày không được làm việc từ ngày 01/7/2021 đến khi Tòa án xét xử chấm dứt hợp đồng lao động tạm tính đến ngày 31/7/2023 là 25 tháng tương đương 229.500.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông P có bổ sung thêm việc không yêu cầu Hủy quyết định số 01/2021/QĐ-TNMTCM ngày 02/7/2021 về việc chấm dứt hợp đồng lao động và đồng ý chấm dứt hợp đồng lao động với Công ty TNHH Dịch vụ Tài nguyên và Môi trường Cà Mau. Yêu cầu Công ty trả cho ông thêm 6 tháng tiền lương do Công ty vi phạm thời gian báo trước 45 ngày mà bản án sơ thẩm chỉ chấp nhận yêu cầu của Công ty chỉ thống nhất trả số tiền lương do vi phạm thời gian báo trước là 45 ngày bằng 8.250.000 đồng

Ông P tranh luận cho rằng: Số tiền hưởng bảo hiểm xã hội một lần ông P đã nhận xong tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Cà Mau là 69.257.036 đồng và ông đã được chốt thời gian đóng bảo hiểm đến tháng 5/2021, hiện nay ông đã nhận lại sổ bảo hiểm. Số tiền trợ cấp mất việc Công ty đã chi trả cho ông P 22.000.000 đồng vào ngày 26/3/2023 xong. Ông P thừa nhận khi dự thảo Thông báo và Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động giữa ông P với công ty là do ông soạn thảo vì ông P phụ trách lĩnh vực này tại Công ty, việc Công ty kí ban hành thông báo chấm dứt hợp đồng lao động và Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đã vi phạm thời gian báo trước là 45 ngày là lỗi của Công ty. Do đó ông yêu cầu bồi thường thiệt hại, trả lương và đóng bảo hiểm cho ông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Xét yêu cầu kháng cáo của ông Trần Khải Phong, Hội đồng xét xử xét thấy:

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông P bổ sung yêu cầu kháng cáo, ông P không yêu cầu hủy Quyết định về việc chấm dứt hợp đồng lao động số 01/2021/QĐ-TNMTCM ngày 02/7/2021 của Công ty TNHH Dịch vụ Tài nguyên và Môi trường Cà Mau. Ông P đồng ý chấm dứt hợp đồng lao động được Công ty TNHH Dịch vụ Tài nguyên và Môi trường Cà Mau thống nhất nên Hội đồng xét xử chấp nhận giữ nguyên Quyết định số 01/2021/QĐ-TNMTCM ngày 02/7/2021 của Công ty TNHH Dịch vụ Tài nguyên và Môi trường Cà Mau về việc chấm dứt hợp đồng lao động.

Ông P kháng cáo yêu cầu điều chỉnh mức lương để buộc Công ty bồi thường thiệt hại cho ông P từ mức lương 5.500.000 đ/tháng thành mức lương theo bảng lương mà Công ty trả cho ông với mức lương là 9.180.000 đồng/tháng.

Hội đồng xét xử xét thấy. Theo các bảng lương ông P cung cấp cho Tòa án từ tháng 10/2019 đến tháng 12/2019 mỗi tháng ông P nhận tổng số tiền là 9.180.000 đồng nhưng ông P và Công ty thừa nhận số tiền lương cơ bản để tham gia bảo hiểm xã hội là 4.000.000 đồng, các khoản tiền còn lại là khoản tiền lương sản phẩm tăng thêm, tiền hỗ trợ ăn trưa, hỗ trợ tiền điện thoại. Tại hồ sơ và tại phiên tòa ông P và Công ty thống nhất mức lương cơ bản để Công ty làm cơ sở chi trả tiền trợ cấp mất việc làm cho ông P là mức lương 5.500.000 đồng/ tháng là có lợi cho ông P. Do đó ông P kháng cáo yêu cầu điều chỉnh mức lương là 9.180.000 đồng/tháng là không có cơ sở nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với kháng cáo của ông P yêu cầu Công ty tiếp tục đóng Bảo hiểm xã hội và Bảo hiểm thất nghiệp cho ông P từ tháng 6/2021 đến khi xét xử.

Hội đồng xét xử xét thấy, do Quyết định số 01/2021/QĐ-TNMTCM ngày 02/7/2021 về việc chấm dứt hợp đồng lao động với ông P được ông P đồng ý không có khiếu nại nên vào tháng 6/2022, ông P đã làm đơn yêu cầu hưởng bảo hiểm xã hội một lần và chốt sổ bảo hiểm được Bảo hiểm xã hội tỉnh Cà Mau thống nhất chốt sổ với ông P số tiền bảo hiểm xã hội Công ty đã nộp cho ông P đến cuối tháng 5/2021. Căn cứ vào thời gian chốt sổ bảo hiểm xã hội để ông P nộp hồ sơ hưởng chế độ Bảo hiểm thất nghiệp. Ông P thừa nhận đã nhận tiền bảo hiểm xã hội một lần với số tiền là 67.257.036 đồng vào ngày 06/6/2022 (BL 07). Vì vậy, hiện nay ông P yêu cầu Công ty tiếp tục nộp Bảo hiểm xã hội và Bảo hiểm thất nghiệp cho ông P từ tháng 6/2021 đến ngày xét xử là không có cơ sở.

Tại phiên tòa, Công ty cũng đồng ý đóng Bảo hiểm xã hội cho ông P từ ngày 01/6/2021 đến ngày 15/8/2021. Tuy nhiên quyết định chấm dứt hợp đồng lao động giữa Công ty với ông P vào ngày 02/7/2021 đã phát sinh hiệu lực. Ông P cũng đã thống nhất chốt sổ bảo hiểm xã hội đến hết tháng 5/2021. Hiện nay ông P không còn là người lao động của Công ty nên Công ty đồng ý đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp cho ông P tháng 6/2021 đến ngày 15/8/2021, bản án sơ thẩm buộc Công ty phải nộp bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp cho ông P từ ngày 01/6/2021 đến ngày 15/8/2021 là không thể thực hiện được. Do đó không chấp nhận yêu cầu của Công ty và yêu cầu kháng cáo của ông P. Sửa bản án sơ thẩm về việc không chấp nhận yêu cầu của ông P về việc buộc Công ty nộp bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp cho ông P từ ngày 01/6/2021 đến ngày Tòa án xét xử.

Đối với yêu cầu kháng cáo của ông P về khoản tiền bồi thường thiệt hại là 6 tháng tiền lương do Công ty vi phạm thời gian báo trước là 45 ngày.

Hôi đồng xét xử xét thấy, mặc dù Công ty có vi phạm thời gian báo trước khi quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông P là 45 ngày, nhưng khi ông P nhận quyết định ông P đã đồng ý không có khiếu nại, không yêu cầu hủy quyết định. Đã qua ông P cũng đã thống nhất với số tiền Công ty chi trả tiền trợ cấp mất việc làm cho ông P là 22.000.000 đồng nhưng Công ty không thực hiện nên ông P khởi kiện yêu cầu Hủy quyết định số 01/2021 và yêu cầu Công ty bồi thường thiệt hại do vi phạm thời gian báo trước là không có cơ sở.

Đã qua, Công ty đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho ông ông P số tiền 8.250.000 đồng là tiền do vi phạm thời gian báo trước là 45 ngày. Cấp sơ thẩm buộc Công ty bồi thường thiệt hại cho ông P là 8.250.000 đồng là phù hợp. Do đó không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông P về việc buộc Công ty bồi thường thiệt hại cho ông P bằng 6 tháng tiền lương.

Đối với kháng cáo của ông P yêu cầu Công ty phải trả tiền lương cho ông từ ngày 01/7/2021 đến khi Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bằng 229.500.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy, đã qua ông P đồng ý chấm dứt hợp đồng lao động. Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động của ông P đã phát sinh hiệu lực từ ngày 02/7/2021. Do ông P đồng ý chấm dứt hợp đồng lao động nên ông P mới nhận sổ bảo hiểm xã hội từ Công ty để đi chốt sổ bảo hiểm xã hội và làm đơn yêu cầu nhận chế độ bảo hiểm xã hội vào bảo hiểm thất nghiệp. Tại phiên tòa, ông P cũng không yêu cầu hủy Quyết định số 01/2021/QĐ-TNMTCM ngày 02/7/2021 về việc chấm dứt hợp đồng lao động và đồng ý không yêu cầu trở lại làm việc, do đó ông P yêu cầu Công ty trả lương trong thời gian không được làm việc từ ngày 01/7/2021 đến ngày xét xử với số tiền là 229.500.000 đồng là không có cơ sở.

Đối với khoản tiền Công ty chi trả tiền trợ cấp mất việc làm cho ông P theo bản tính ngày 03/11/2021 là 22.000.000 đồng được ông P đồng ý và Công ty đã chuyển trả cho ông P vào ngày 26/03/2023 được ông P thừa nhận nên ông P đã rút yêu cầu và đã được cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử là phù hợp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông P không có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của ông P nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông P.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận:

Về án phí lao động phúc thẩm: Do kháng cáo của ông P được chấp nhận một phần nên ông P không phải chịu theo quy định.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Trần Khải Phong.

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 03/2023/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

Tuyên xử

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Khải P về việc giữ nguyên Quyết định số 01/2021/QĐ-TNMTCM ngày 02/7/2021 Công ty TNHH Dịch vụ Tài nguyên và Môi trường Cà Mau về việc chấm dứt hợp đồng lao động.

Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Khải P về việc yêu cầu điều chỉnh mức lương từ 5.500.000 đồng lên 9.180.000 đồng.

Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Khải P về việc Buộc Công ty TNHH Dịch vụ Tài nguyên và Môi trường Cà Mau phải bồi thường thiệt hại cho ông Trần Khải P 6 tháng tiền lương.

Buộc Công ty TNHH Dịch vụ Tài nguyên và Môi trường Cà Mau phải bồi thường thiệt hại cho ông Trần Khải P số tiền 8.250.000 đồng (Tám triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Khải P về việc Buộc Công ty TNHH Dịch vụ Tài nguyên và Môi trường Cà Mau đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho ông Trần Khải P từ tháng 6 năm 2021 đến ngày xét xử.

Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Khải P về việc buộc Công ty TNHH Dịch vụ Tài nguyên và Môi trường Cà Mau trả lương cho ông P trong những ngày không được làm việc từ ngày 01/7/2021 đến ngày xét xử phúc thẩm là 229.500.000 đồng.

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Trần Khải P buộc Công ty TNHH Dịch vụ Tài nguyên và Môi trường Cà Mau trả tiền trợ cấp mất việc 22.000.000 đồng.

Án phí lao động sơ thẩm: Buộc Công ty TNHH Dịch vụ Tài nguyên và Môi trường Cà Mau phải chịu 300.000 đồng (chưa nộp). Ông Trần Khải P được miễn nộp án phí.

Án phí lao động phúc thẩm: Ông Trần Khải Phong không phải chịu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Các quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Cỡ chữ