vanban.org

Bản án 04/2023/LĐ-PT — Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

TAND tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 21/04/2023 Lao động Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/04/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông N.P.H. Giữ nguyên bản án lao động sơ thẩm số 02/2022/LĐ-ST ngày 03/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Không chấp nhận yêu câu khởi kiện của nguyên đơn ông N.P.H đối với bị đơn là BQL cảng BĐ về việc: Đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc và buộc BQL cảng BĐ nhận ông N.P.H trở lại làm việc và bồi thường các khoản do đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc trái pháp luật. Về án phí: Ông N.P.H được miễn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông N.P.H. Giữ nguyên bản án lao động sơ thẩm số 02/2022/LĐ-ST ngày 03/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
  • Căn cứ chính? Điều 29 Luật Viên chức; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/LĐ-PT
Ngày: 21 - 4 - 2023
V/v: Tranh chấp đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tâm

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Minh Châu

Bà Nguyễn Thị Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Lê Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu: Ông Vũ Duyên Trường - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 20, 21 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 06/2022/TLPT-LĐ ngày 04 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.

Do Bản án lao động sơ thẩm số 02/2022/LĐ-ST ngày 03 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện C bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 05/2023/QĐ-PT ngày 09 tháng 3 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2023 ngày 29/3/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông N.P.H, sinh năm 1973; Địa chỉ: Địa chỉ: 714/5/3 đường 30/4, phường 11, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông B.S.T, sinh năm 1967; Địa chỉ: 29/1/2 T.H.Đ, phường P.N, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).

Ông B.S.T ủy quyền lại cho ông N.Đ.K, sinh năm 1972; Địa chỉ: Khu dân cư số 6, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).

- Bị đơn: BQL cảng BĐ; Địa chỉ: Khu dân cư số 10, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Người đại diện theo pháp luật: Ông Đ.C.Th - Chức vụ: Phó Giám đốc. (Văng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:

+ Ông L.Đ.H1 - Chức vụ: Trưởng phòng Tổ chức - Hành chính BQL cảng BĐ. (Có mặt).

+ Ông N.Đ.T1- Chức vụ: Phó Trưởng phòng Tổ chức - Hành chính BQL cảng BĐ. (Có mặt).

- Người kháng cáo: Ông N.P.H là nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn ông N.P.H và người đại diện theo ủy quyền của ông H trình bày: Ngày 16/12/2013, ông N.P.H và QL cảng BĐ (viết tăt BQL cảng B.Đ) ký Hợp đồng lao động số 16/HĐLĐ không xác định thời hạn. Công việc ông Hậu theo Hợp đồng là Sy quan boong tàu CĐ 10 (viết tăt là CĐ 10). Trong quá trình làm việc, ông H luôn hoàn thành tốt công việc được giao.

Ngày 05/10/2020, ông H nhận được Thông báo số 73/TB-BQL ngày 05/10/2020 của BQL cảng BĐ về việc đơn phương chấm dứt Hợp đồng làm việc đối với viên chức thuyền viên tàu CĐ10 với lý do tàu CĐ 10 ngưng hoạt động theo chủ trương của Uy ban nhân dân huyện C (UBND huyện C).

Ngày 12/10/2020, ông B.S.T đại diện cho các thành viên tàu CÐ10 gửi đơn kiến nghị đến BQL cảng BĐ. Ngày 04/11/2020, BQL cảng BĐ trả lời đơn kiến nghị của ông T tại công văn số 313/BQL với nội dung không chấp nhận nội dung kiến nghị của ông T và các thuyền viên.

Ngày 24/11/2020, BQL cảng BĐ ra Quyết định số 174/QĐ-BQL (Viết tăt QĐ 174) chấm dứt hợp đồng làm việc đối với viên chức là ông H với lý do: BQL cảng BĐ đơn phương chấm dứt Hợp đồng làm việc theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức vì “...lý do bất khả kháng theo quy định của Chính phủ làm cho đơn vị công lập buộc phải thu hep quy mô, khiến vị trí việc làm mà viên chức đảm nhận không còn”.

Ngày 10/12/2020 ông H có đơn khiếu nại QĐ 174; Ngày 31/12/2020, BQL cảng BĐ ra Quyết định số 212/QĐ-BQL về việc giải quyết khiếu nại của ông H (lân đâu) với nội dung: Giữ nguyên QĐ số 174 ngày 24/11/2020 của BQL cảng BĐ về việc chấm dứt hợp đồng làm việc đối với viên chức.

Căn cứ Công văn số 3054/BNV-CTBC ngày 19/6/2020 của Bộ Nội vụ về việc thực hiện chính sách tinh giản nhân sự tàu CÐ10 thuộc BQL cảng BĐ trực thuộc Uy ban nhân dân huyện C (viết tăt UBND huyện C) thì trường hợp của các ông và các thuyền viên khác se được hưởng chế độ chính sách tinh giản biên chế theo quy định tại Nghị định 108/2014/NĐ-CP, đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 113/2018/NĐ-CP ngày 31/8/2018 của Chính phủ. Cùng với đó, tại Văn bản số 3966/UBND-NVLĐTB&XH ngày 09/12/2019, UBND huyện C đã xác định các thuyền viên tàu CĐ10 là viên chức dôi dư theo Văn bản 795/SNV-CCVC ngày 29/6/2020 của Sở Nội vụ hướng dẫn thực hiện chế độ chính sách tinh giản nhân sự tàu CĐ10. Tuy nhiên, ngày 04/11/2020 BQL cảng BĐ trả lời tại Công văn số 313/BQL cho ông B.S.T với nội dung là công văn 3054/BNV-TCBC và Công văn 795/SNV-CCVC không phải văn bản quy phạm pháp luật (không phải cơ sở để thực hiện chính sách tinh giản biên chế thuyền viên tàu CĐ10) mà là văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách biên chế của Sở nội vụ (trích dẫn điểm a khoản 1, 2 Điều 6 Nghị định 108/2014/NĐ-CP) và vẫn giữ nguyên quyết định cho ông H và các thuyền viên khác nghỉ việc.

Ông H cho răng BQL cảng BĐ áp dụng điểm d khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức để đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc đối với ông là trái quy định của pháp luật, bởi vì BQL cảng BĐ đã biết trước và lường trước được tàu CĐ10 se bị chấm dứt hoạt động kể tư ngày 01/4/2020 nên không thuộc trường hợp bất khả kháng. Ngoài ra, trong thời gian chờ thanh lý tàu CĐ10, BQL cảng BĐ có đủ thời gian để xây dựng Đề án săp xếp, tổ chức lại bộ máy của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 3 Nghị định 55/2012/NĐ-CP ngày 28/6/2012, tuy nhiên BQL cảng BĐ cố tình không thực hiện dẫn đến ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông. Nếu BQL cảng BĐ xây dựng đề án thì ông và các nguyên đơn khác thuộc trường hợp viên chức dôi dư và khi nghỉ việc se được hưởng chế độ chính sách tinh giản biên chế theo quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 6 của Nghị định 108/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2014. BQL cảng BĐ không thực hiện đúng các quy định nêu trên mà ban hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc đối với ông là trái pháp luật.

Do vậy, ông H khởi kiện với các yêu câu như sau:

1. Hủy quyết định 174/QĐ-BQL ngày 24/11/2020 về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với với ông N.P.H;

2. Nhận ông N..P.H trở lại làm việc;

3. Trả tiền lương những ngày không được làm việc đối với ông H cụ thể như sau:

- 06 ngày làm việc (tư ngày 25-30/11/2020) số tiền: 376.225 đồng x 6 ngày = 2.257.350 đồng.

- Tư ngày 01/12/2020 đến ngày 25/7/2022 số T: 9.781.850 đồng x 18 tháng 25 ngày = 185.478.925 đồng;

4. Bồi thường 02 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, số Tiền: 9.781.850 đồng x 02 tháng = 19.563.700 đồng;

5. Đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN cho ông H theo quy định (Tạm tính tư ngày 25/11/2020 đến ngày 25/7/2022) số T: 9.781.850 đồng x 21,5% x 19 tháng = 39.958.857 đồng;

Tổng cộng số tiền ông H yêu câu là: 247.258.832 đồng.

* Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, bị đơn BQL cảng B.Đ và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: BQL cảng BĐ được thành lập theo Quyết định số 5041/QĐ.UB ngày 30/10/2000 của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Quyết định số 1155/QĐ-UBND ngày 02/4/2007 về việc sửa đổi Quyết định số 5041/QĐ.UB ngày 30/10/2000 của UBND tỉnh về việc thành lập BQL cảng BĐ huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, là đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc Uy ban nhân dân huyện C.

BQL cảng BĐ xác nhận đã ban hành Quyết định số 174/QĐ-BQL ngày 24/11/2020 đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông H như ông H trình bày là đúng, với lý do “...lý do bất khả kháng theo quy định của Chính phủ làm cho đơn vị công lập buộc phải thu hep quy mô, khiến vị trí việc làm mà viên chức đảm nhận không còn” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức.

Đội tàu khách (CĐ 09 và tàu CĐ10) do BQL cảng BĐ quản lý lân lượt được đưa vào sử dụng năm 1999 và năm 2002, làm nhiệm vụ vận chuyển hành khách đường biển tuyến Vũng Tàu - Côn Đảo và ngược lại theo chỉ tiêu kế hoạch huyện C giao hàng năm và được Uy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (viết tăt UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) trợ giá vé (bù lỗ) trong quá trình hoạt động thực tế. Sau gân 20 năm khai thác, động cơ, trang thiết bị, tiện nghi đã lạc H, chi phí cao nay lại hoạt động trong điều kiện cạnh tranh với các tàu đóng mới hiện đại của các hãng tư nhân, nên cả hai tàu đã không hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch được giao. Do vậy, UBND huyện C đã chỉ đạo chấm dứt hoạt động tàu CĐ 09 kể tư ngày 01/03/2019, theo đó ngày 15/5/2019 BQL cảng BĐ đã ban hành các Quyết định về việc chấm dứt Hợp đồng làm việc đối với viên chức là thuyền viên tàu CĐ 09.

Đối với tàu CĐ10: BQL cảng BĐ căn cứ vào các văn bản chỉ đạo sau để tiến hành các thủ tục liên quan đến việc ngưng hoạt động của tàu CĐ10 và giải quyết nhân sự tàu CĐ10 như sau:

Theo Thông báo 21/TB-UBND ngày 20/01/2020 của Chủ tịch UBND huyện C có chủ trương ngưng hoạt động và giải quyết nhân sự tàu CĐ10 kể tư ngày 01/4/2020.

Thực hiện Thông báo trên, ngày 21/02/2020, Phòng Nội vụ Lao động Thương binh và xã hội huyện C ban hành Hướng dẫn số 108/NVLĐTB&XH về việc thực hiện chính sách nghỉ việc đối với viên chức tàu CĐ10.

Ngày 10/4/2020, UBND huyện C ban hành Thông báo số 1155/UBND-NVLĐTB&XH về một số nội dung về giải quyết nhân sự khi thực hiện thanh lý tàu CĐ10.

Ngày 14/8/2020, UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã thống nhất chủ trương ngưng hoạt động của tàu CĐ10 tại Thông báo số 548/TB-UBND thông báo kết luận của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ngọc Khánh tại cuộc họp nghe báo cáo tình hình hoạt động của tàu CĐ10.

Ngày 21/8/2020, UBND huyện C có Thông báo 329/TB-UBND thông báo kết luận tại cuộc họp làm việc với BQL cảng BĐ. Theo đó, UBND huyện yêu câu BQL cảng BĐ hoàn thành việc giải quyết nhân sự tàu CĐ10 vào giữa quý IV năm 2020.

Thực hiện các văn bản nêu trên của cấp có thẩm quyền về việc ngưng hoạt động tàu CĐ10 và căn cứ vào các quy định có liên quan, BQL cảng BĐ đã triển khai quy trình giải quyết nhân sự tàu CĐ10 như sau:

Ngày 14/4/2020, BQL cảng BĐ ban hành Thông báo số 32/TB-BQL về việc triển khai chủ trương chấm dứt hoạt động tàu CĐ10 và giải quyết chế độ nghỉ việc đối với nhân sự là thuyền viên tàu CĐ10.

Ngày 31/8/2020, BQL cảng BĐ đã có buổi làm viêc với thuyền viên tàu CĐ10 về việc Thông báo chủ trương ngưng hoạt động của tàu CĐ10 và giải quyết chế độ thôi việc cho thuyền viên (thành phân tham dự cuộc họp gồm Đảng ủy BQL cảng BĐ; Ban Giám đốc; Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở; Lãnh đạo phòng Tổ chức - Hành chính; Lãnh đạo phòng Kế hoạch - Điều độ; cùng toàn thể thuyền viên tàu CĐ10). Tại cuộc họp, Giám đốc BQL cảng BĐ đã thông báo đến toàn thể viên chức là thuyền viên tàu CĐ10 biết: Đơn vị se thực hiện đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với thuyền viên tàu CĐ10 theo quy định tại Điểm d, Khoản 1, Điều 29, Luật Viên chức số 58/2010/QH12 “Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của Chính phủ làm cho đơn vị sự nghiệp công lập buộc phải thu hep quy mô, khiến vị trí việc làm mà viên chức đang đảm nhận không còn” và giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc cho thuyền viên tàu CĐ10 theo quy định tại Điều 39 của Nghị định 29/2012/NĐ của Chính phủ ngày 12/4/2012.

Ngày 05/10/2020, BQL cảng BĐ đã ban hành Thông báo số 73/TB-BQL về việc việc đơn phương chấm dứt Hợp đồng làm việc đối với viên chức là thuyền viên tàu CĐ10. Theo nội dung thông báo, BQL cảng BĐ se thực hiện đơn phương chấm dứt Hợp đồng làm việc đối với viên chức là thuyền viên tàu CĐ10 kể tư ngày 25/11/2020.

Không thống nhất với việc đơn vị đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với thuyền viên tàu CĐ10, cho răng quyền và lợi ích hợp pháp của thuyền viên tàu CĐ10 bị vi phạm nên ông B.S.T (thuyền viên tàu CĐ10) đã đại diện cho tập thể thuyền viên tàu CĐ10 có đơn kiến nghị ngày 12/10/2020 gửi Phòng NVLĐTB& XH huyện C.

Thực hiện công văn số 770/NVLĐTB&XH ngày 27/10/2020 của Phòng NVLĐTB&XH huyện C về việc chuyển đơn kiến nghị của ông B.S.T, BQL cảng BĐ có công văn số 313/BQL ngày 04/11/2020 về việc trả lời đơn kiến nghị của ông B.S.T.

Ngày 24/11/2020, BQL cảng BĐ ban hành Quyết định số 174/QĐ-BQL về việc chấm dứt Hợp đồng làm việc đối với viên chức (ông N.P.H - Sy quan boong tàu CĐ 10).

Không đồng ý với quyết định 174, ngày 10/12/2020 ông H có đơn khiếu nại QĐ 174. Ngày 31/12/2020, BQL cảng BĐ ban hành Quyết định số 212/QĐ-BQL về việc giải quyết khiếu nại của ông H (lân đâu) với nội dung: Giữ nguyên QĐ số 174 ngày 24/11/2020 của BQL cảng BĐ về việc chấm dứt hợp đồng làm việc đối với viên chức.

Như vậy, nếu tính tư ngày 05/10/2020 cho đến ngày 24/11/2020 (thời điểm ban hành Quyết định số 174/QĐ-BQL ngày 24/11/2020) đã hơn 45 ngày.

Sau khi chấm dứt hợp đồng làm việc với ông H, BQL cảng BĐ đã thanh toán đây đủ chế độ thôi việc cho ông H đúng quy định pháp luật và ông H đã nhận được khoản tiền này qua chuyển khoản vào tài khoản của ông H.

Vì lý do hoạt động không hiệu quả nên UBND huyện C đã quyết định ngưng hoạt động và giải quyết nhân sự tàu CĐ10 kể tư ngày 01/4/2020. Trường hợp tàu CĐ10 ngưng hoạt động và thanh lý thuộc trường hợp bất khả kháng vì nó xảy ra một cách khách quan do có sự thay đổi quy định, cơ chế chính sách của UBND tỉnh, UBND huyện trong quản lý và khai thác tàu CĐ10 và sự thay đổi này là không lường trước được khi hai bên ký kết Hợp đồng lao động. Hoạt động tàu CĐ10 không hiệu quả là do thay đổi về cơ chế, chính sách trong quản lý và khai thác tàu, với vị trí là đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm một phân kinh phí hoạt động trực thuộc UBND huyện C, BQL cảng BĐ phải chấp hành quyết định ngưng hoạt động tàu CĐ10 của cấp có thẩm quyền cũng như không có khả năng, biện pháp nào khăc phục để duy trì hoạt động tàu CĐ10.

Như vậy, tàu CĐ10 ngưng hoạt động và thanh lý là vì lý do bất khả kháng dẫn đến đơn vị phải thu hep quy mô hoạt động khiến vị trí việc làm của các thuyền viên tàu CĐ10 đảm nhiệm không còn. Vì vậy, điểm d khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức; khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự và điểm b khoản 2 Điều 12 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động, BQL cảng BĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc đối với các thuyền viên tàu CĐ 10 trong đó có ông H là đúng quy định của pháp luật.

Về ý kiến của ông H và các thuyền viên khác cho răng mình được hưởng chế độ chính sách tinh giản biên chế theo quy định tại Nghị định 108/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2014, BQL cảng BĐ có ý kiến như sau: Tại điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định 108 quy định: “a) Dôi dư do rà soát, săp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền của Đảng, Nhà nước hoặc do đơn vị sự nghiệp công lập săp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự”, căn cứ quy định trên thuyền viên tàu CĐ 10 không thuộc đối tượng tin giản biên chế theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định 108 mà thuộc đối tượng theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức.

Về công văn số 3054/BNV-CTBC ngày 19/6/2020 của Bộ Nội vụ: Qua nghiên cứu văn bản trên, BQL cảng BĐ nhận thấy: Công văn này không phải là văn bản quy phạm pháp luật (làm căn cứ áp dụng chế độ tinh giản biên chế cho thuyền viên tàu CĐ 10). Tại công văn Bộ Nội vụ trích dẫn điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Nghị định 108/2014/NĐ-CP “...đề nghị Sở Nội vụ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu căn cứ quy định trên để tham mưu cho Uy ban nhân dân tỉnh thực hiện chính sách tinh giản biên chế cho phù hợp”. Công văn này là văn bản hướng dẫn chung cho việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế, không phải áp dụng riêng đối với các thuyền viên tàu CĐ10.

Tư những trình bày trên, BQL cảng BĐ không chấp nhận toàn bộ yêu câu khởi kiện của nguyên đơn.

* Bản án lao động sơ thẩm số 02/2022/LĐ-ST ngày 03 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện C đã quyết định như sau: Không chấp nhận yêu câu khởi kiện của ông N.P.H đối với bị đơn BQL cảng BĐ về việc “Đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc”, buộc BQL cảng BĐ nhận ông trở lại làm việc và bồi thường các khoản do đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc trái pháp luật.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

* Ngày 17/8/2022, ông N.P.H kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu câu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết:

- Hủy một phân Bản án lao động sơ thẩm số 02/2022/LĐ-ST ngày 03/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện C về “Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” đã tuyên, cụ thể hủy nội dung: Không chấp nhận yêu câu khởi kiện của ông N.P.H đối với bị đơn BQL cảng BĐ về việc “Đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc”, buộc BQL cảng BĐ nhận ông H trở lại làm việc và bồi thường các khoản do đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc trái pháp luật.

- Chấp nhận toàn bộ yêu câu khởi kiện của nguyên đơn.

- Đề nghị Tòa án cho bị đơn thay đổi yêu câu giải quyết để cho ông N.P.H thôi việc theo diện tinh giản biên chế do dôi dư quy định tại Nghị định số 108/2014/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 113/2018/NĐ-CP ngày 31/8/2018 của Chính phủ.

- Đề nghị Tòa phúc thẩm tiến hành thu thập các tài liệu chứng cứ tư UBND huyện C hoặc BQL cảng BĐ, gồm: Thông báo số 55/TB-UBND ngày 04/3/2019 của UBND huyện C; Văn bản số 3966/UBND-NVLĐTB&XH của UBND huyện C; Phương án/Đề án săp xếp tổ chức lại bộ máy và tinh giản biên chế của BQL cảng BĐ theo chỉ đạo của UBND huyện C tại Thông báo số 55/TB-UBND ngày 04/3/2019; Quy chế trả lương của BQL cảng BĐ đối với các viên chức Đội tàu; Văn bản số 703/SNV-CCVC ngày 05/6/2020 của Sở Nội vụ; Văn bản của Phòng Tài chính – Kế hoạch về việc không đồng ý cho BQL cảng BĐ trả lương hết tháng 11/2020 khi các thuyền viên tàu CĐ-10 thôi việc vào ngày 24/11/2020.

* Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu câu khởi kiện, giữ nguyên yêu câu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu câu kháng cáo của nguyên đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

BQL cảng BĐ (BQL cảng BĐ), huyện C được thành lập theo Quyết định số 5041/QĐ.UB ngày 30/10/2000 của UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. BQL cảng BĐ hoạt động theo Quy chế về tổ chức và hoạt động được ban hành kèm theo Quyết định số 5341/QĐ.UB ngày 09/7/2001 của UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Quyết định số 1155/QĐ-UBND ngày 02/4/2007 sửa đổi Quyết định số 5041/QĐ.UB ngày 30/10/2000 của UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; các Quyết định bổ sung chức năng, nhiệm vụ: Số 1234/QĐ-UBND ngày 07/6/2011, số 2692/QĐ-UBND ngày 22/9/2017 của UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Quyết định số 2706/QĐ-UBND ngày 27/11/2013 của UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quy định vị trí, chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BQL cảng BĐ, huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Quyết định số 426/QĐ.UB ngày 25/12/2000 của UBND huyện C V/v chuyển giao nhiệm vụ quản lý và điều hành bộ phận tàu biển CĐ cho BQL cảng BĐ, huyện C. Các Quyết định của UBND huyện C liên quan việc xếp loại hình tổ chức hoạt động, giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với BQL cảng BĐ: Số 676/QĐ-UBND ngày 17/8/2005, số 878/QĐ-UBND ngày 20/8/2007, số 109/QĐUBND ngày 15/02/2011, số 580/QĐ.UBND ngày 10/7/2014, số 1128/QĐ-UBND ngày 29/12/2017. Theo đó, BQL cảng BĐ là đơn vị sự nghiệp có thu tự đảm bảo một phân chi phí hoạt động, có tư cách pháp nhân và chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của UBND huyện C. BQL cảng BĐ hoạt động trong lĩnh vực quản lý, khai thác, sử dụng cảng cá, cung ứng dịch vụ hậu cân thủy sản, dịch vụ vận chuyển hàng hóa, hành khách băng đường biển, … Đội tàu khách CĐ gồm hai tàu: CĐ 09 và CĐ 10 thuộc BQL cảng BĐ, thực hiện nhiệm vụ vận chuyển hành khách đường biển tuyến Vũng Tàu – Côn Đảo và ngược lại theo chỉ tiêu kế hoạch do UBND huyện C giao hàng năm và được UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trợ giá vé trong quá trình hoạt động.

Tại khoản 1 Điều 9 của Luật viên chức quy định: Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước.

BQL cảng BĐ được UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thành lập để cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước. Như vậy, BQL cảng BĐ là đơn vị sự nghiệp công lập.

Theo Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn số 16/HĐLV ngày 16/12/2013 giữa BQL cảng BĐ và ông N.P.H ký kết thì ông H làm việc tại BQL cảng BĐ với chức danh chuyên môn là Sy quan kinh tế, nhiệm vụ theo sự phân công của thuyền trưởng, thời gian làm việc 08 tiếng/ngày, các chế độ và quyền lợi khác được thực hiện theo quy định của pháp luật. Hợp đồng làm việc có hiệu lực tư ngày 01/01/2012.

Tại Điều 2 của Luật viên chức quy định: Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương tư quy lương của đơn vị công lập theo quy định của pháp luật.

Như vậy, ông H là viên chức làm việc tại BQL cảng BĐ nên chế độ việc làm, T lương, phụ cấp và các chế độ khác được điều chỉnh theo Luật viên chức.

Ngày 26/9/2017, UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ban hành Quyết định số 2721/QĐ-UBND về giá vé đội tàu vận tải CĐ áp dụng cho tàu khách CĐ tăng dân theo lộ trình tư tháng 9/2017 đến hết năm 2019, theo mục tiêu giảm dân bù lỗ, tiến tới năm 2020 hoạt động tự trang trải, ngân sách không bù lỗ. Do đội tàu hoạt động không hiệu quả, không cạnh tranh được với các tàu đóng mới của các đơn vị khác chạy cùng tuyến, không hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch do UBND huyện C giao năm 2018 nên không được UBND huyện C giao chỉ tiêu kế hoạch năm 2019 và chờ thanh lý.

Ngày 20/01/2020, UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ban hành Thông báo số 21/TB-UBND với nội dung chấp thuận chủ trương dưng hoạt động tàu CĐ10, mốc thời gian dưng hoạt động kể tư trước ngày 01/4/2020 và giao BQL cảng BĐ nghiên cứu, chủ động thực hiện các chế độ chính sách đối với nhân sự thuộc tàu CĐ10 theo đúng quy định hiện hành về Luật viên chức và Luật lao động trước ngày 01/4/2020.

Ngày 14/8/2020, UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ban hành Thông báo số 548/TB-UBND với nội dung thống nhất việc ngưng hoạt động của tàu CĐ10 và giao Sở Tài chính chủ trì phối hợp với Sở Nội vụ, UBND huyện C, BQL cảng Bến Đâm và các cơ quan, đơn vị liên quan rà soát điều kiện thanh lý và xử lý các vấn đề về nhân sự của tàu CĐ10, thống nhất trình UBND tỉnh trong tháng 8/2020 theo quy định.

Ngày 21/8/2020, UBND huyện C ban hành Thông báo 329/TB-UBND yêu câu BQL cảng BĐ hoàn thành việc giải quyết nhân sự tàu CĐ10 vào giữa quý IV năm 2020.

Căn cứ nội dung các văn bản trên, ngày 31/8/2020, BQL cảng BĐ đã tổ chức cuộc họp với thành phân tham dự gồm: Đại diện lãnh đạo Liên đoàn lao động huyện C (văng mặt); đại diện lãnh đạo Phòng NVLĐTB&XH huyện C (văng mặt); Đảng ủy BQL cảng BĐ; Ban Giám đốc; Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở; Lãnh đạo phòng Tổ chức - Hành chính; Lãnh đạo phòng Kế hoạch - Điều độ và toàn thể thuyền viên tàu CĐ10 để thông báo chủ trương ngưng hoạt động của tàu CĐ10 và giải quyết chế độ thôi việc cho thuyền viên. Cuộc họp kết luận: Trong quá trình chờ ý kiến chỉ đạo mới của cấp trên về giải quyết nhân sự tàu CĐ10, đơn vị vẫn tiếp tục thực hiện quy trình về đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với thuyền viên tàu CĐ10 theo đúng quy định và sự chỉ đạo của UBND huyện C.

Ngày 05/10/2020, BQL cảng BĐ đã ban hành Thông báo số 73/TB-BQL gửi cho các thuyền viên biết về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc đối với 16 viên chức thuyền viên tàu CĐ10 (có danh sách kèm theo) kể tư ngày 25/11/2020.

Ông B.S.T (thuyền viên tàu CĐ10) đã đại diện cho tập thể thuyền viên tàu CĐ10 có đơn kiến nghị tập thể nên ngày 04/11/2020, BQL cảng BĐ có công văn số 313/BQL trả lời đơn kiến nghị của ông B.S.T với nội dung: “...BQL cảng Bến Đâm áp dụng quy định tại điểm d khoản 1 Điều 29 Luật viên chức để chấm dứt hợp đồng làm việc với toàn bộ thuyền viên tàu CĐ10 là phù hợp với thực tế, đúng quy định của pháp luật nên không có căn cứ, cơ sở để giải quyết chế độ tinh giản biên chế cho thuyền viên tàu CĐ10 theo Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ...”.

Ngày 24/11/2020, BQL cảng BĐ ban hành Quyết định số 174/QĐ-BQL về việc chấm dứt Hợp đồng làm việc đối với viên chức ông H với lý do: “BQL cảng BĐ đơn phương chấm dứt Hợp đồng làm việc theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức vì lý do bất khả kháng theo quy định của Chính phủ làm cho đơn vị sự nghiệp công lập buộc phải thu hep quy mô, khiến vị trí việc làm mà viên chức đang đảm nhận không còn.

Ngày 10/12/2020, ông H có đơn khiếu nại QĐ 174. Ngày 31/12/2020, BQL cảng BĐ ra Quyết định số 212/QĐ-BQL về việc giải quyết khiếu nại của ông H (lân đâu) với nội dung: Giữ nguyên QĐ số 174 ngày 24/11/2020 của BQL cảng BĐ về việc chấm dứt hợp đồng làm việc đối với viên chức.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Luật Viên chức, khi đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc, người đứng đâu đơn vị sự nghiệp công lập phải báo cho viên chức biết trước ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng làm việc không xác định thời hạn. Ngày 05/10/2020, BQL cảng BĐ đã ban hành Thông báo số 73/TB-BQL về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc. Ngày 24/11/2020, BQL cảng BĐ ban hành Quyết định số 174/QĐ-BQL về việc chấm dứt Hợp đồng làm việc đối với ông N.P.H. Như vậy, tính tư ngày ban hành thông báo đến ngày ban hành Quyết định (ngày 05/10/2020 đến ngày 24/11/2020) đã hơn 45 ngày là đúng quy định.

Theo nguyên đơn thì tư tháng 3/2019 UBND huyện C đã có văn bản chỉ đạo yêu câu BQL cảng BĐ chuẩn bị thủ tục thanh lý tàu CĐ10 và tổ chức thực hiện chế độ chính sách cho nhân viên tàu CĐ10 băng các văn bản sau: Thông báo số 55/TB-UBND ngày 04/3/2019; Thông báo số 21/TB-UBND ngày 20/01/2020 và Thông báo số 329/TB-UBND ngày 21/8/2020 của Uy ban nhân dân huyện C thể hiện. Tính tư khi UBND huyện C ban hành Thông báo số 55/TB-UBND ngày 04/3/2019 đến ngày dưng hoạt động tàu CĐ10 theo chỉ đạo của UBND huyện C kể tư ngày 01/4/2020. Như vậy, BQL cảng BĐ có thời gian 13 tháng để xây dựng Đề án săp xếp, tổ chức lại bộ máy của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 3 Nghị định 55/2012/NĐ-CP ngày 28/6/2012. Nếu BQL cảng BĐ thực hiện theo đúng chỉ đạo của UBND huyện C và theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 3 Nghị định 55/2012/NĐ-CP ngày 28/6/2012 thì các thuyền viên trên tàu CĐ10 (trong đó có nguyên đơn) thuộc diện biên chế dôi dư do rà soát, săp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự và khi nghỉ việc se được hưởng chế độ chính sách tinh giản biên chế theo quy định của Nghị định 108/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2014; Nghị định 113/2018/NĐ-CP ngày 31 tháng 8 năm 2018 và Nghị định 143/2020/NĐ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2020 sửa đổi, bổ sung Nghị định 108/2014/NĐ-CP của Chính phủ. Do BQL cảng BĐ không rà soát, săp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự mà căn cứ điểm d khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức năm 2010 để đơn phương chấp dứt hợp đồng làm việc đối với ông Phương do thuộc trường hợp sự kiện bất khả kháng là trái pháp luật. Bởi vì BQL cảng BĐ đã lường trước được tàu CĐ10 se ngưng hoạt động và bị thanh lý nên không thuộc trường hợp sự kiện bất khả kháng, thấy:

Tàu CĐ10 do Nhà nước giao cho BQL BĐ để thực hiện cung cấp dịch vụ công, vận hành theo chỉ tiêu kế hoạch UBND huyện C giao hàng năm và được UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trợ giá vé trong quá trình hoạt động, nhưng hoạt động không hiệu quả, không cạnh tranh được với các tàu đóng mới của tư nhân và các đơn vị khác chạy cùng tuyến; thu không đủ chi để duy trì hoạt động, liên tiếp không hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch do UBND huyện C giao. UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu căt chính sách bù lỗ vé tàu và chủ trương ngưng hoạt động tàu CĐ 10. UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ban hành Thông báo số 548/TB-UBND với nội dung thống nhất việc ngưng hoạt động của tàu CĐ10 và giao Sở Tài chính chủ trì phối hợp với Sở Nội vụ, UBND huyện C, BQL cảng BĐ và các cơ quan, đơn vị liên quan rà soát điều kiện thanh lý và xử lý các vấn đề về nhân sự của tàu CĐ10.

Như vậy việc ngưng hoạt động tàu CĐ10 là do chỉ đạo của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và UBND huyện C. Dù BQL cảng BĐ biết trước việc ngưng hoạt động của tàu CĐ10 nhưng việc ngưng hoạt động tàu CĐ10 là ngoài ý muốn của BQL cảng BĐ. BQL cảng BĐ phải ngưng hoạt động tàu CĐ10 là do phải thực hiện theo chủ trương của cơ quan chủ quản. Việc ngưng hoạt động tàu CĐ10 dù BQL cảng BĐ có muốn săp xếp, tổ chức lại bộ máy của đơn vị thì cũng không có tàu khác để săp xếp, bố trí việc làm của thuyền viên trên tàu CĐ 10. Vì vậy, việc BQL cảng BĐ ngưng hoạt động của tàu CĐ10 được coi là lý do bất khả kháng.

Hợp đồng làm việc của BQL cảng BĐ với các thuyền viên tàu CĐ10 thì trong hợp đồng đã nêu rõ địa điểm làm việc, chức danh chuyên môn đối với tàu CĐ 10. Khi con tàu này ngưng hoạt động, vị trí việc làm của các thuyền viên không còn thì BQL cảng BĐ buộc phải chấm dứt hợp đồng làm việc đối với các thuyền viên tàu CĐ10 là phù hợp.

Tại khoản 1 Điều 29 Luật viên chức quy định: “1. Đơn vị sự nghiệp công lập được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức trong các trường hợp sau:

d) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của Chính phủ làm cho đơn vị sự nghiệp công lập buộc phải thu hep quy mô, khiến vị trí việc làm mà viên chức đang đảm nhận không còn”;

Như vậy, BQL cảng BĐ ban hành Quyết định 174/QĐ-BQL ngày 24/11/2020 về việc chấm dứt hợp đồng làm việc đối với ông H vì lý do bất khả kháng là có căn cứ và phù hợp với điểm d khoản 1 Điều 29 của Luật viên chức. Các chế độ của ông H do chấm dứt hợp đồng làm việc đã được BQL cảng BĐ thanh toán đây đủ theo quy định và đã thực hiện đây đủ các quy định về việc chấm dứt hợp đồng làm việc đối với ông H theo quy định của Luật lao động và Luật viên chức.

Phía nguyên đơn cho răng BQL cảng BĐ chấm dứt hợp đồng làm việc đối với ông H vì lý do bất khả kháng là không đúng mà phải cho ông H thôi việc theo diện tinh giảm biên chế do dôi dư quy định Nghị định 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 113/2018/NĐ-CP ngày 31/8/2018.

Tinh giản biên chế được giải thích tại khoản 2 Điều 3 của Nghị định 108/2014/NĐ-CP là việc đánh giá, phân loại, đưa ra khỏi biên chế những người dôi dư, không đáp ứng yêu câu công việc, không thể tiếp tục bố trí săp xếp công tác khác và giải quyết chế độ, chính sách đối với những người thuộc diện tinh giản biên chế.

Tại điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Nghị định 108/2014/NĐ-CP Các trường hợp tinh giản biên chế:

“a) Dôi dư do rà soát, săp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền của Đảng, Nhà nước hoặc do đơn vị sự nghiệp công lập săp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự;

2. Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động không xác định thời hạn trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ) dôi dư do săp xếp lại tổ chức theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc do đơn vị sự nghiệp công lập săp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự.”.

Như vậy, ông H chỉ thôi việc theo diện tinh giản biên chế theo quy định tại Nghị định 108/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2014, Nghị định 113/2018/NĐ-CP ngày 31 tháng 8 năm 2018 và Nghị định 143/2020/NĐ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2020 sửa đổi, bổ sung Nghị định 108/2014/NĐ-CP và Nghị định 113/2014/NĐ-CP khi tàu CĐ10 còn hoạt động hoặc có tàu khác thay thế tàu CĐ10 nhưng do ông H không đáp ứng được yêu câu công việc trên tàu và không thể bố trí công việc khác trên tàu hoặc phải giảm bớt số người thực hiện công việc trên tàu.

Đối với Công văn 3054/BNV-CTBC ngày 19/6/2020 của Bộ Nội vụ là văn bản hướng dẫn chung cho việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế, không phải áp dụng riêng đối với các thuyền viên tàu CĐ10.

Phía nguyên đơn yêu câu Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành thu thập các tài liệu chứng cứ, gồm: Thông báo số 55/TB-UBND ngày 04/3/2019 của UBND huyện C; Văn bản số 3966/UBND-NVLĐTB&XH của UBND huyện C; Phương án/Đề án săp xếp tổ chức lại bộ máy và tinh giản biên chế của BQL cảng BĐ theo chỉ đạo của UBND huyện C tại Thông báo số 55/TB-UBND ngày 04/3/2019; Quy chế trả lương của BQL cảng BĐ đối với các viên chức Đội tàu; Văn bản số 703/SNV-CCVC ngày 05/6/2020 của Sở Nội vụ; Văn bản của Phòng Tài chính – Kế hoạch về việc không đồng ý cho BQL cảng BĐ trả lương hết tháng 11/2020 khi các thuyền viên tàu CĐ10 thôi việc vào ngày 24/11/2020.

Các văn bản trên đã được thu thập và nghiên cứu.

Tư nhận định trên, án sơ thẩm không chấp nhận yêu câu khởi kiện của nguyên đơn ông N.P.H đối với bị đơn BQL cảng BĐ về việc “Đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc” là có căn cứ. Không chấp nhận kháng cáo của ông N.P.H. Giữ nguyên bản án Lao động sơ thẩm.

Về án phí: Ông N.P.H được miễn án phí lao động sơ thẩm và án phí lao động phúc thẩm theo quy định tại Điều 12 của Nghị Quyết 326/2016/ UBTVQH14 quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 228, 296, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 38 Bộ luật Lao động năm 2012; khoản 1, khoản 2 Điều 29 Luật Viên chức; các Điều 12, 26, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông N.P.H. Giữ nguyên bản án lao động sơ thẩm số 02/2022/LĐ-ST ngày 03/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu câu khởi kiện của nguyên đơn ông N.P.H đối với bị đơn là BQL cảng BĐ về việc: Đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc và buộc BQL cảng BĐ nhận ông N.P.H trở lại làm việc và bồi thường các khoản do đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc trái pháp luật.

2. Về án phí: Ông N.P.H được miễn án phí lao động sơ thẩm và án phí lao động phúc thẩm.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu câu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Bản án có hiệu lực pháp luật kể tư ngày tuyên án.

Cỡ chữ