- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 56, Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 25 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ______ Bản án số: 04/2023/HSST Ngày: 20/02/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU - PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lò Nhật Chuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Phan Văn Ký
2/ Ông Nguyễn Tấn Thành
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu tham gia phiên toà: Ông Phan Quốc Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân (TAND) thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên và điểm cầu thành phần Trụ sở Nhà tạm giữ thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. TAND thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2023/HSST ngày 12 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
- Chung Nghiệp Th, (tên gọi khác: Chó cẩm), sinh năm 1990. Nơi cư trú: 125/29 Ph S, phường Ph S, thành phố Nh Tr, tỉnh Khánh Hoà.; Nghề nghiệp: Sơn nước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Con ông Chung Cẩm V (chết) và bà Trần Thị Ph, sinh năm 1956; Vợ, con: chưa có;
Tiền sự: Không.
Tiền án:
+ Bản án số 90/2011/HSST ngày 04/5/2011, TAND thành phố Nha Trang xử phạt 01 năm tù về tội cướp giật tài sản. Chấp hành xong hình phạt từ ngày 01/04/2012.
+ Bản án số 153/2013/HSST ngày 28/5/2013, TAND thành phố Nha Trang xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt từ ngày 28/12/2013.
+ Bản án số 61/2015/HSST ngày 25/3/2015 TAND thành phố Nha Trang xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội cướp giật tài sản và 02 năm 06 tháng từ về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt từ ngày 13/09/2020.
+ Bản án số 163/2022/HSST ngày 24/5/2022, TAND thành phố Nha Trang xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị tạm giam, có mặt
Người bị hại:
- Vợ chồng anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1976 và chị Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Thôn H M, xã X C, thị xã S C, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 18/7/2022, Chung Nghiệp Th một mình đi xe khách từ thành phố Nh Tr, tỉnh Khánh Hòa ra nhà bạn tại thành phố Q Nh, tỉnh Bình Định để chơi. Đến khoảng 14 giờ 50 phút ngày 20/7/2022, trên đường Th đi xe khách về lại nhà thì Th xuống xe tại phía Nam cầu Bình Phú thuộc thôn H M, xã X C, thị xã S C, tỉnh Phú Yên. Lúc này, Th đi bộ về hướng Nam dọc theo Quốc lộ 1A, khi đi được khoảng vài trăm mét, Th nhìn thấy trong sân nhà mẹ ruột của chị Nguyễn Thị Minh H có dựng xe mô tô BKS 63P1 – 009.02, nhãn hiệu Wave RSX, màu đen, gắn sẵn chìa khóa trên xe, không có người trông giữ nên Th nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô nói trên. Th đi thẳng vào vị trí xe mô tô BKS 63P1 – 009.02 rồi mở khóa nổ máy xe rồi điều khiển chạy về hướng hướng Nam trên Quốc lộ 1A. Ngay sau đó, chị Nguyễn Thị Minh H phát hiện chiếc xe mô tô BKS 63P1 – 009.02 bị kẻ gian lấy mất nên trình báo cho Công an xã Xuân Cảnh tiến hành truy đuổi. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Th bị lực lượng công an bắt giữ và đưa Th cùng tang vật gồm xe mô tô BKS 63P1 – 009.02 và tài sản bên trong cốp xe gồm: Hai nhẫn vàng vàng loại 9999, trọng lượng 04 chỉ; Một chiếc nhẫn vàng lọai 12K, trọng lượng 4,3 phân; Một vòng tay vàng loại 14k, trọng lượng 1,22 chỉ; Một dây chuyền vàng, loại 12K, trọng lượng 1,03 chỉ và số tiền 629.000 đồng đến trụ sở Công an để làm việc.
Tại kết luận định giá tài sản số 31-KL/HĐĐG, ngày 25/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Sông Cầu kết luận, tại thời điểm ngày 20/7/2022: Xe mô tô biển kiểm soát 63P1 – 009.02, nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, số khung 3229EY060952, số máy JA32E0061070 có giá trị thực theo giá thị trường là 5.000.000 đồng. Hai nhẫn vàng vàng loại 9999, trọng lượng 04 chỉ trị giá 21.080.000 đồng. Một chiếc nhẫn vàng lọai 12K, trọng lượng 4,3 phân trị giá 835.000 đồng. Một vòng tay vàng loại 14k, trọng lượng 1,22 chỉ trị giá 3.036.000 đồng. Một dây chuyền vàng, loại 12K, trọng lượng 1,03 chỉ trị giá 1.795.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
+ Xe mô tô biển kiểm soát 63P1 – 009.02, nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, số khung 3229EY060952, số máy JA32E0061070; kèm Giấy đăng ký xe số 016298 đăng ký ngày 22/9/2015 đứng tên ông Lê Việt Th đang tạm giữ.
+ 01 nhẫn kim loại bằng vàng, loại vàng 9999, bên trong vòng nhẫn có khắc ký tự “MYDUNG 9999 2C”, trọng lượng 02 chỉ; 01 nhẫn kim loại bằng vàng, loại vàng 9999, bên trong vòng nhẫn có khắc ký tự bị mờ, trọng lượng 02 chỉ; 01 nhẫn kim loại bằng vàng, loại 12K, mặt trên có khắc chữ “H”, trọng lượng 4,3 (bốn phẩy ba) phân; 01 vòng tay bằng vàng, loại 14K, trọng lượng 1,22 (một phẩy hai mươi hai) chỉ; 01 dây chuyền vàng, loại 12K, trọng lượng 1,03 (một phẩy không ba) chỉ Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là vợ chồng chị Nguyễn Thị Minh H, Nguyễn Thanh T.
Phần dân sự: Bị hại vợ chồng chị Nguyễn Thị Minh H, Nguyễn Thanh T đã nhận lại tất cả số vàng, tiền mặt và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bản Cáo trạng số 01/CT-VKSSC ngày 12 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố bị cáo Chung Nghiệp Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Khẳng định bản Cáo trạng số 01/CT-VKSSC ngày 12 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng tội nên giữ nguyên nội dung Cáo trạng. Căn cứ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Chung Nghiệp Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 56, Điều 38 BLHS phạt bị cáo từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù, tổng hợp hình phạt 03 (một) năm 06 (sáu) tháng tù tại Bản án số 163/2022/HSST ngày 24/5/2022 của TAND thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà thời hạn tù tính từ ngày 20/7/2022.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Chung Nghiệp Th không có nghề nghiệp ổn định, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại vợ chồng chị Nguyễn Thị Minh H, Nguyễn Thanh T đã nhận lại tất cả số vàng, tiền mặt và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Nên đề nghị HĐXX không xét.
Về vật chứng vụ án:
+ 01 nhẫn kim loại bằng vàng, loại vàng 9999, bên trong vòng nhẫn có khắc ký tự “MYDUNG 9999 2C”, trọng lượng 02 chỉ; 01 nhẫn kim loại bằng vàng, loại vàng 9999, bên trong vòng nhẫn có khắc ký tự bị mờ, trọng lượng 02 chỉ; 01 nhẫn kim loại bằng vàng, loại 12K, mặt trên có khắc chữ “H”, trọng lượng 4,3 (bốn phẩy ba) phân; 01 vòng tay bằng vàng, loại 14K, trọng lượng 1,22 (một phẩy hai mươi hai) chỉ; 01 dây chuyền vàng, loại 12K, trọng lượng 1,03 (một phẩy không ba) chỉ Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là vợ chồng chị Nguyễn Thị Minh H, Nguyễn Thanh T.
+ Xe mô tô biển kiểm soát 63P1 – 009.02, nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, số khung 3229EY060952, số máy JA32E0061070; kèm Giấy đăng ký xe số 016298 đăng ký ngày 22/9/2015 đứng tên ông Lê Việt Th đang tạm giữ.
Đối với xe mô tô BKS 63P1 – 009.02 (có giấy đăng ký xe đứng tên chủ sở hữu là ông Lê Việt Th, sinh năm 1995, trú tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang). Chị H cho biết vào năm 2017, chị làm thuê tại thành phố Hồ Chí Minh nên có mua chiếc xe nói trên ở cửa hàng bán xe mô tô cũ (không xác định địa chỉ cụ thể) với số tiền 10.000.000 đồng, để làm phương tiện đi lại nhưng không làm hợp đồng mua bán. Nên cơ quan CSĐT thị xã Sông Cầu đã ủy thác sưu tra xác định chiếc xe mô tô trên của anh Th bị kẻ gian trộm cắp vào tháng 06/2016 tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Vì vậy, cơ quan CSĐT Công an thị xã Sông Cầu đã thông báo cho cơ quan CSĐT Công an huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang biết để tiến hành điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
Tại phiên tòa Chung Nghiệp Th khai: Bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đã phạm tội, Viện kiểm sát truy tố về hành vi phạm tội của bị cáo là hoàn toàn đúng không oan, sai gì cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Sông Cầu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
- Về sự vắng mặt của những người bị hại: Quá trình điều tra đã có lời khai của người bị hại và người bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, việc vắng mặt của người bị hại, không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người bị hại.
Bị cáo Chung Nghiệp Th có đủ năng lực và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức và điều khiển hành vi của mình sao cho phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo Chung Nghiệp Th biết rõ trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, sẽ bị xử lý theo quy định. Nhưng vì để có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã lén lút trộm cắp tài sản của người khác, tổng giá trị tài sản Chung Nghiệp Th chiếm đoạt là 32.375.000 đồng, bị cáo chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội. Nên hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS năm 2015.
Hành vi lén lút trộm cắp tài sản của bị cáo Chung Nghiệp Th là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo có nhân thân rất xấu 04 lần bị TAND thành phố Nha Trang xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản và cướp giật tài sản. Bị cáo không lấy đó làm bài học cho mình để tu dưỡng rèn luyện bản thân để trở thành công dân tốt, điều đó cho thấy bị cáo chưa thật sự ăn năn, hối cải và xem thường pháp luật. Nên cần xử lý đúng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra và nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới đảm bảo tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Xét quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó cần xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo phần nào về hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành người tốt và có ích cho xã hội.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, của người bị hại, kết luận định giá số 31-KL/HĐĐG, ngày 25/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Sông Cầu, không gian, thời gian, địa điểm, mà bị cáo đã chiếm đoạt tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Do đó quyết định truy tố tại bản Cáo trạng số 01/CT-VKSSC ngày 12 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Không oan gì cho bị cáo.
Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa tuyên bố bị cáo: Chung Nghiệp Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 56, Điều 38 BLHS phạt bị cáo từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù, tổng hợp hình phạt 03 năm 06 tháng tù tại Bản án số 163/2022/HSST ngày 24/5/2022 của TAND thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/7/2022 là có căn cứ. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Chung Nghiệp Th không có nghề nghiệp ổn định, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại vợ chồng chị Nguyễn Thị Minh H, Nguyễn Thanh T đã nhận lại tất cả số vàng, tiền mặt và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Nên HĐXX không xét.
Về vật chứng:
+ 01 nhẫn kim loại bằng vàng, loại vàng 9999, bên trong vòng nhẫn có khắc ký tự “MYDUNG 9999 2C”, trọng lượng 02 chỉ; 01 nhẫn kim loại bằng vàng, loại vàng 9999, bên trong vòng nhẫn có khắc ký tự bị mờ, trọng lượng 02 chỉ; 01 nhẫn kim loại bằng vàng, loại 12K, mặt trên có khắc chữ “H”, trọng lượng 4,3 (bốn phẩy ba) phân; 01 vòng tay bằng vàng, loại 14K, trọng lượng 1,22 (một phẩy hai mươi hai) chỉ; 01 dây chuyền vàng, loại 12K, trọng lượng 1,03 (một phẩy không ba) chỉ Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là vợ chồng chị Nguyễn Thị Minh H, Nguyễn Thanh T. Nên đề nghị HĐXX không xét
+ Xe mô tô biển kiểm soát 63P1 – 009.02, nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, số khung 3229EY060952, số máy JA32E0061070; kèm Giấy đăng ký xe số 016298 đăng ký ngày 22/9/2015 đứng tên ông Lê Việt Th chuyển lại Cơ quan điều tra Công an thị xã Sông Cầu tiếp tục điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với xe mô tô BKS 63P1 – 009.02 (có giấy đăng ký xe đứng tên chủ sở hữu là ông Lê Việt Th, sinh năm 1995, trú tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang). Chị H cho biết vào năm 2017, chị làm thuê tại thành phố Hồ Chí Minh nên có mua chiếc xe nói trên ở cửa hàng bán xe mô tô cũ (không xác định địa chỉ cụ thể) với số tiền 10.000.000 đồng, để làm phương tiện đi lại nhưng không làm hợp đồng mua bán. Nên cơ quan CSĐT thị xã Sông Cầu đã ủy thác sưu tra xác định chiếc xe mô tô trên của anh Th bị kẻ gian trộm cắp vào tháng 06/2016 tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Vì vậy, cơ quan CSĐT Công an thị xã Sông Cầu đã thông báo cho cơ quan CSĐT Công an huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang biết để tiến hành điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
Về án phí: Bị cáo Chung Nghiệp Th phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 56, Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ Luật tố tụng hình sự
- Điều 23, Điều 25 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Chung Nghiệp Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Chung Nghiệp Th 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Buộc bị cáo Chung Nghiệp Th chấp hành hình phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù tại Bản án số 163/2022/HSST ngày 24/5/2022 của TAND thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà đã có hiệu lực pháp luật và hình phạt 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù của bản án này. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/7/2022.
2. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Chung Nghiệp Th không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: HĐXX không xét.
4. Về vật chứng: Đối với xe mô tô BKS 63P1 – 009.02 đã qua sử dụng, nhãn hiệu: HONDA, số loại : Wave RSX, màu đen, số máy: JA32E0061070, số khung: 3229EY060952 và giấy đăng ký ngày 22/9/2015 đứng tên ông Lê Việt Th chuyển lại Cơ quan điều tra Công an thị xã Sông Cầu điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/01/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Sông Cầu và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên).
5. Về án phí: Buộc bị cáo Chung Nghiệp Th phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên - VKSND tỉnh Phú Yên - VKSND Tx. Sông Cầu - CQĐT Công an TX. Sông Cầu - Cơ quan THAHS TX. Sông Cầu - Chi cục THADS TX Sông Cầu - Bị cáo - Những người tham gia tố tụng khác - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ Toạ phiên toà Đã ký Lò Nhật Chuyên |