- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HSST Ngày: 06/02/2023 |
NHÂN DANH
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HOÀ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH,
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
TỈNH KHÁNH HOÀ:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiếu
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo
* Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Xuân Oanh
Ông Mai Như Chi.
* Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Bùi Thị Thu Hà
- Thư ký phiên toà: Bà Thị Thúy Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành2/ Ông Trần Tá
phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
* Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Hữu Xuân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh tham gia phiênQuỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh.
toà: Ông Nguyễn Nhật Hoàng Tân - Kiểm sát vi n
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh tham
Ngày 06 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Camgia phiên toà: Ông Lê Quang Khải - Kiểm sát vi n.
Ranh - tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 159/2022/HSST ngày 28 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:
Họ và t n: Nguyễn Văn T, sinh ngày 18 tháng 7 năm 1986, tại Khánh
Hòa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố , phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Trình độ văn hóa: 3/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Nguyễn Văn T1 và bà: Ngô Thị Bích V; Vợ: Đỗ Thị Anh Ý (đã ly hôn); Con: chưa có. Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 19/10/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh áp
dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 02 năm, tại Quyết định số 51/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 27/01/2022;
Nhân thân:
- Tại bản án số 80/2011/HSST ngày 21/01/2011 của Tòa án nhân dân
thành phố Cam Ranh xử phạt Nguyễn Văn T 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt ngày 25/01/2013
- Tại bản án số 102/2013/HSST ngày 03/12/2013 của Tòa án nhân dân
thành phố Cam Ranh xử phạt Nguyễn Văn T 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 26/5/2014.
- Tại bản án số 152/2015/HSPT ngày 23/11/2015 của Tòa án nhân dân
tỉnh Khánh Hòa xử phạt Nguyễn Văn T 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 22/4/2018
- Ngày 16/8/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh áp dụng biện
pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 01 năm 06 tháng, tại Quyết định số 38/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 30/8/2019;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 10 tháng 4 năm 2022. Có mặt tại phiên tòa.
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Ngô Thị Bích V, sinh năm:
1961; nơi cư trú: Tổ dân phố , phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phi n tòa.
* Bị hại:
1. Ông Phạm Đình B, sinh năm: 1967; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường
B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phi n tòa.
2. Ông Nguyễn Xuân A, sinh năm: 1989; nơi cư trú: Tổ dân phố T,
phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có đơn xin xét xử vắng mặt tại phi n tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm: 1968; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường
B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phi n tòa.
2. Bà Phan Thị Anh Đ, sinh năm: 1980; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường
B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phi n tòa.
* Người làm chứng:
1. Đặng Võ Thanh B1, sinh năm: 1992; nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường
V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phi n tòa.
2. Ngô Văn N, sinh năm: 1986; nơi cư trú: Tổ dân phố , phường C,
thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phi n tòa.
3. Thân Văn V1, sinh năm: 1996; nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường C,
thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phi n tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phi n tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 10 tháng 4 năm 2022, Nguyễn Văn T sử dụng ma túy.
Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, T đi bộ tr n đường và nhặt 01 cây gỗ cầm theo đến khu vực quán của chị Ngô Thị Bích V ở Tổ dân phố H, phường B, thành phố C la hét, chửi bới. Tại đây, T dùng cây gỗ đánh vào phía trước đầu xe mô tô của chị Phan Thị Thanh Đ1 đang dựng trước quán. T tiếp tục đến khu vực bếp của quán ông Nguyễn Văn S (b n cạnh quán chị V) lấy 01 con dao dài 30cm và dùng dao tự gây thương tích cho mình.
Đến khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, T cầm theo con dao và cây gỗ đi
bộ tr n Quốc lộ A. Khi đến khu vực nhà ông Phạm Đình B ở Tổ dân phố H, phường B, thành phố C, T thấy xe mô tô hiệu Nozza Grande, biển số 79C1-297.26 của ông B đang dựng trước nhà, có gắn chìa khóa, còn ông B đang quay lưng về phía xe mô tô, đang mở cửa để dắt xe vào nhà. T nảy sinh ý định lấy xe mô tô này. T đi đến để cây gỗ và con dao l n vị trí gác chân phía trước xe rồi ngồi l n, nổ máy thì bị ông B phát hiện và giữ tay T lại nhưng T nhanh chóng điều khiển xe bỏ đi.
Sau khi lấy xe mô tô tr n, T điều khiển xe đi đến trụ sở Công an thành
phố C ở Tổ dân phố P, phường C, thành phố C. Thấy T cầm dao n n anh Nguyễn Xuân A (cán bộ Đ2 Công an thành phố C đang làm nhiệm vụ trực chiến) y u cầu T bỏ dao xuống nhưng T không đồng ý vì nghĩ có người đang đuổi giết mình, rồi cầm dao bỏ chạy ra ngoài công vi n 18/10. Thấy vậy, anh A và một số người khác đuổi theo. Khi đến khu vực trước phòng Tài chính - Kế hoạch thành phố C thì T bị té ngã. úc này, anh A y u cầu T bỏ dao xuống thì T dùng dao chém trúng mặt anh A gây thương tích. Sau đó, T bị khống chế, thu giữ dao và đưa về trụ sở Công an thành phố Cam Ranh làm việc.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 41 ngày 13 tháng 4 năm 2022 của Hội
đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: xe mô tô 79C1-297.26, trị giá 27.960.000 đồng.
Ngày 09/5/2022, Nguyễn Xuân A có đơn y u cầu khởi tố vụ án hình sự.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 206/TgT-TTPY ngày
19 tháng 5 năm 2022 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận: Tổng tỷ lệ % tổn thương cơ thể của Nguyễn Xuân A là 09%
Ngày 23/5/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C trưng cầu
giám định pháp y tâm thần đối với Nguyễn Văn T.
Tại kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 153/K GĐ ngày
05/7/2022 của Trung tâm P kết luận:
- Kết luận về y học: Trong khi thực hiện hành vi phạm tội vào ngày
10/4/2022, Nguyễn Văn T bị bệnh: Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng ma túy, hoang tưởng, ảo giác (F19.5-ICD.10). Hiện tại (tại thời điểm giám định) Nguyễn Văn T: Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng ma túy (F19.2-ICD.10).
Kết luận về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Trong
khi thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 10/4/2022, Nguyễn Văn T: Mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi. Hiện tại, Nguyễn Văn T: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
Tại Bản cáo trạng số 85/CT-VKSCR-HS ngày 03 tháng 10 năm 2022,
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự và “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, k khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phi n tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phi n tòa giữ
nguy n quyết định truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự; thay đổi quyết định truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự (rút tình tiết quy định tại điểm k khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự); đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 2 năm đến 2 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Về vật chứng vụ án:
- Xe mô tô 79C1-297.26 đã trả lại cho chủ sở hữu Phạm Đình B nên
không xét.
- 01 cây gỗ không còn giá trị sử dụng n n tịch thu ti u hủy, 01 con dao dài
30cm trả lại cho ông Nguyễn Văn S.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phạm Đình B, Nguyễn Xuân A, người có
quyền lợi, nghĩa vụ li n quan Phan Thị Thanh Đ1, Nguyễn Văn S không y u cầu bồi thường th m n n đề nghị không xét.
Tại phi n tòa, bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận hành vi phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án đã được tranh tụng tại phi n tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về thủ tục tố tụng:
Trong quá trình điều tra truy tố xét xử; Cơ quan điều tra, Điều tra
vi n, Viện kiểm sát, Kiểm sát vi n, Hội đồng xét xử, Thư ký phi n tòa đã tuân thủ và thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phi n tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Tại phi n tòa vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ li n
quan, người làm chứng nhưng việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án n n quyết định xét xử vắng mặt.
Theo kết luận giám định số 153/K GĐ ngày 05/7/2022 của Trung
tâm P kết luận: Hiện tại, Nguyễn Văn T: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Tuy nhi n, trong quá trình tiến hành tố tụng bị cáo và đại diện hợp pháp đều từ chối người bào chữa. Tại phi n tòa, đại diện hợp pháp của bị cáo cũng cho rằng quá trình thực hiện hành vi phạm tội trước đó do bị cáo sử dụng ma túy gây ra ảo giác n n làm hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, từ đó đến nay do bị tạm giam và không sử dụng ma túy n n đến hiện nay bị cáo đã hoàn toàn tỉnh táo, n n việc cử người bào chữa cho bị cáo là không cần thiết. Bị cáo cũng xin từ chối cử luật sư bào chữa. Do vậy, căn cứ vào Điều 77 của Bộ luật tố tụng hình sự, cần chấp nhận việc từ chối người bào chữa của bị cáo và người đại diện hợp pháp.
Tại phi n tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cam
Ranh đã luận tội bị cáo theo hướng giữ nguy n quyết định truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự; thay đổi quyết định truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự (rút tình tiết quy định tại điểm k khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự). Xét thấy việc luận tội bị cáo theo hướng rút một tình tiết định khung theo quy định tại điểm k khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có lợi cho bị cáo n n chấp nhận.
Trong hồ sơ và tại phi n tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi
phạm tội. ời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ li n quan đến vụ án, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ căn cứ để kết luận:
Sau khi sử dụng ma túy, vào khoảng 21 giờ 10 phút ngày 10 tháng 4
năm 2022, tại nhà của ông Phạm Đình B ở tổ dân phố H, phường B, thành phố C; Nguyễn Văn T có hành vi cướp giật xe mô tô 79C1-297.26 của ông B, trị giá: 27.960.000 đồng.
Đến khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày tại khu vực phòng Tài Chính
K thành phố C ở tổ dân phố P, phường C, thành phố C, T có hành vi dùng dao (là hung khí nguy hiểm) chém trúng mặt anh Nguyễn Xuân A gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 09%.
Theo kết luận giám định 153/K GĐ ngày 05/7/2022 của Trung tâm
P kết luận: Trong khi thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 10/4/2022, Nguyễn Văn T bị bệnh: Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng ma túy, hoang tưởng, ảo giác. Như vậy, bị cáo phạm tội do sử dụng ma túy trước đó n n vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 13 của Bộ luật hình sự.
Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đủ cơ sở cấu thành tội
“Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự và “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Anh Nguyễn Xuân A là cán bộ công an thành phố C tuy nhi n tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi gây thương tích, anh A không thực hiện nhiệm vụ bảo vệ trụ sở công an thành phố C n n không áp dụng tình tiết quy định tại điểm k khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm nghi m trọng
đến tài sản và sức khỏe của người khác, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu nhưng không tu dưỡng mà tiếp tục phạm tội n n cần thiết phải xử lý về hình sự và áp dụng mức hình phạt nghi m đối với bị cáo.
Ngoài ra, cũng cần xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn
năn hối cải; n n có thể áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo còn có dấu hiệu của các tội phạm khác cần tiếp tục
điều tra, xử lý hình sự như: Hành vi chiếm đoạt tài sản là con dao của bị cáo đối với ông Nguyễn Văn S; Hành vi của bị cáo còn có dấu hiệu của các tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Chống người thi hành công vụ”. Tòa án nhân dân Thành phố Cam Ranh đã trả hồ sơ y u cầu điều tra bổ sung nhưng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố C vẫn giữ nguy n quyết định truy tố. Do đó, kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Thành phố C tiếp tục điều tra, làm rõ những hành vi tr n để xem xét việc xử lý theo quy định pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan
không có y u cầu n n không xem xét.
Về vật chứng: 01 cây gỗ, 01 con dao dài 30cm không còn giá trị sử
dụng n n tịch thu ti u hủy.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ tr n;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 171; Điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 13; Điều 55; điểm s
khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
- Điều 260, 298 và 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Tuy n bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản” và “Cố ý
gây thương tích”.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 1 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội
“Cướp giật tài sản” và 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 2 (hai) năm 03 (ba) tháng, thời hạn phạt tù tính từ ngày 10 tháng 04 năm 2022.
3. Về vật chứng: Tịch thu ti u hủy 01 (một) khúc gỗ hình hộp chữ nhật,
kích thước (37x5x2,8)cm và 01 (một) con dao dài 30cm, cán dao bằng gỗ dài 14cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 16cm, bản rộng 04cm (Theo bi n bản giao nhận vật chứng ngày 18/10/2022 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố C và Chi cục Thi hành án Cam Ranh).
4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án
phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo được
quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuy n án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ni m yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa. - VKSND tỉnh Khánh Hòa. - Sở tư pháp tỉnh Khánh Hòa - VKSND TP. Cam Ranh. - Chi cục THADS TP. Cam Ranh. - Công an TP. Cam Ranh. - Bị cáo, bị hại, N Q - ưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hiếu |