vanban.org

Bản án 04/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Hải Châu, TP Đà Nẵng Tuyên án 09/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Trường T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Ngô Trường T 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Ngô Trường T về Ủy ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Đà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Trường T phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô Trường T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 36 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HS-ST
Ngày: 09.01.2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hữu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vy - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 129/2023/HS-ST ngày 22 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2022/HSST-QĐ ngày 30 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Ngô Trường T. Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 01/01/1970 tại thành phố Đà Nẵng.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ 6, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.

Nghề nghiệp: Không.

Trình độ học vấn: 9/12. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam;

Họ và tên cha: Ngô Trường S (Sn: 1940); Họ và tên mẹ: Ngô Thị T (Sn: 1948). Vợ: Đinh Thị T (sn 1972). Con: Ngô Trường D (SN 1991) và Ngô Tr (SN 1995). Gia đình bị cáo có 06 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng truy tố về

tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Dương Kim H - Luật sư Văn phòng Luật sư Kim H, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ: 20 Nguyễn D, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Bị hại: Công ty Cổ phần M

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Quang V, sinh năm 1974. Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Địa chỉ: Số 29 F, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Hữu C sinh năm 1990. Hộ khẩu thường trú: Tổ 28 Hòa P, phường H, thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ liên lạc: 138/4 Nguyễn P, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Người làm chứng:

Anh Phạm Ngọc Anh Vsinh năm 2000. Trú tại: Thôn Q, xã H, huyện Hthành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 50 phút ngày 06.8.2022, khi đi ngang qua siêu thị M – địa chỉ 160 N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng do ông Lê Quang V làm Tổng giám đốc thấy không có người, T đã nảy sinh ý định trộm cắp. Tđã đi vào siêu thị, đến khu trưng bày điện thoại lấy trộm 01 (một) điện thoại di dộng hiệu Samsung Galaxy A33 5G màu cam, bỏ vào túi quần bên trái và nhanh chóng đi ra khỏi siêu thị. Do chuông báo động của siêu thị reo lên, quản lý siêu thị là anh Nguyễn Hữu C phát hiện tri hô cùng nhân viên là anh Phạm Ngọc Anh V đuổi theo nên T bỏ chạy. Khi T chạy đến đầu kiệt 99 N thì bị Tổ tuần tra của Công an phường H, quận H phát hiện bắt giữ cùng tang vật và đưa về trụ sở Công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A33 5G màu cam, số Imei 353475123042399/01.

- 01 đĩa DVD-R hiệu Mingshen chứa dữ liệu video dài 27 giây ghi lại hình ảnh Ngô Trường T thực hiện hành vi trộm cắp, 01 hóa đơn thể hiện giá tiền của điện thoại di động động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A33 5G.

Tại Kết luận định giá tài sản số 119/KL-HĐĐGTS ngày 19.9.2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự UBND quận Hải Châu kết luận: điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A33 5G trên có trị giá 4.957.000 đồng.

Xét thấy hành vi phạm tội của Ngô Trường T bị bắt quả tang; sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; bị cáo có căn cước, lai lịch rõ ràng. Vì vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng quận Hải Châu đã áp dụng Điều 456 Bộ luật tố tụng hình sự để áp dụng thủ tục rút gọn về điều tra, truy tố và xét xử đối với bị cáo Ngô Trường T.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 01/QĐ-VKS ngày 20/12/2022 Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu đã truy tố bị cáo Ngô Trường T về tội: "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện bị hại có mặt tại phiên tòa không có yêu cầu bồi thường và đề nghị Chủ tọa phiên tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu giữ nguyên quyết định đã truy tố và căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, đề nghị Chủ tọa phiên tòa áp dụng điểm h, i, p, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Trường T cải tạo không giam giữ, thời gian từ 06 tháng đến 09 tháng.

Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A33 5G, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu đã trao trả cho anh Nguyễn Hữu C là người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần M, anh Đ đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.

Lưu giữ trong hồ sơ 01 đĩa DVD-R hiệu Mingshen chứa dữ liệu video dài 27 giây ghi lại hình ảnh Ngô Trường T thực hiện hành vi trộm cắp.

Về trách nhiệm dân sự: Công ty Cổ phần M đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập đến.

Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu luận cứ bào chữa và thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát truy tố cũng như các tình tiết giảm nhẹ mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Luật sư đề nghị Chủ tọa phiên tòa xem xét nhân thân và hoàn cảnh gia đình của bị cáo, đề nghị Chủ tọa phiên tòa áp dụng khoản 1, 3, 4 Điều 36; khoản 1, 2 Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ, không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với bị cáo, không khấu trừ thu nhập.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là sai, có thái độ ăn năn hối cải và mong Chủ tọa phiên tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa nhận thấy như sau:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng. Xét thấy hồ sơ đã thu thập đầy đủ ý kiến, lời khai của họ nên sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hải Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, lời khai của bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:

Khoảng 08 giờ 50 phút ngày 06.8.2022, tại khu vực trưng bày điện thoại của siêu thị M– địa chỉ 160 N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, Ngô Trường T đã có hành vi lén lút trộm 01 (một) điện thoại di dộng hiệu Samsung Galaxy A33 5G màu cam, số Imei 353475123042399/01 có giá trị 4.957.000 đồng thì bị quản lý siêu thị phát hiện đuổi bắt. Khi T chạy đến đầu kiệt 99 N thì bị Tổ tuần tra của Công an phường H, quận H phát hiện bắt giữ cùng tang vật và đưa về trụ sở Công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Hiện tài sản đã được thu hồi và trao trả cho bị hại. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự táo bạo, liều lĩnh bất chấp coi thường pháp luật. Để đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung thì việc truy tố, đưa ra xét xử và buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là cần thiết.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn; tỏ ra biết ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; tài sản có giá trị không lớn, đã trả lại cho bị hại; người đại diện theo ủy quyền của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo là người khuyết tật nặng (nhóm 6.3), bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo của địa phương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, p, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã viện dẫn, xét thấy: hành vi phạm tội của bị cáo có mức độ, giá trị tài sản trộm cắp không lớn nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Miễn việc khấu trừ thu nhập và không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với bị cáo Ngô Trường T vì bị cáo là người bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi, bị khuyết tật nặng, không có việc làm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường nên không xét.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Trường T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1.Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, p, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Ngô Trường T 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Ngô Trường T về Ủy ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng cùng gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Ngô Trường T trong thời gian chấp hành hình phạt.

Lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD-R hiệu Mingshen chứa dữ liệu video dài 27 giây ghi lại hình ảnh Ngô Trường T thực hiện hành vi trộm cắp.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Ngô Trường T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Cỡ chữ