- Tranh chấp gì? án hình sự — "võ minh p - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Võ Minh P (Lú) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU Bản án số: 04/2023/HSST. Ngày: 16-02-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ
TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Qúy Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Bùi Thị Kim Thủy.
2. Bà Dương Thị Được.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mai - Thư ký TAND huyện Đ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ: Bà Nguyễn Thị Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 16-02-2023, tại trụ sở TAND huyện Đ xét xử vụ án hình sự thụ lý số 02/2023/HSST ngày 09-01-2023 đối với:
Bị cáo: Võ Minh P (Lú), sinh năm: 1990.
Trú tại: 237A/ô4 khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh BR-VT.
Chổ ở: khu phố P, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh BR-VT.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh.
Trình độ văn hóa: 5/12; Nghề nghiệp: Không.
Con ông Võ Văn X và bà Phạm Thị M.
B/c có vợ Trương Thị Tâm L và 01 người con sinh năm 2017.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 06-02-2022 bị Toà án nhân dân huyện L xử phạt 10 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Ngày 15-5-2020 bị Toà án nhân dân huyện L xử phạt 20 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt chung của 02 bản án là 30 tháng tù. Chấp hành xong ngày 30-4-2022.
Nhân thân:
- Ngày 26-01-2011 bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Đ quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
- Ngày 26-12-2013, bị Toà án nhân dân huyện Đ tuyên phạt 03 năm tù về tội cướp tài sản. Chấp hành xong ngày 21-01-2016.
- Ngày 09-3-2018 bị Toà án nhân dân huyện Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc 16 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Chấp hành xong ngày 15-6-2019.
- Ngày 15-10-2019, bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Đã nộp phạt ngày 17-10-2019.
Bị bắt tạm giam ngày 18-11-2022 – có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Lê Văn V, sinh năm 1986 (Vắng mặt).
Địa chỉ: tổ 12 ấp M, xã L, huyện Đ.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Trần Văn H, sinh năm 1991 (vắng mặt).
Địa chỉ: khu phố Th, thị trấn Đ, huyện Đ.
+ Bà Phạm Thị Kim T, sinh năm 1986 (vắng mặt).
Địa chỉ: tổ 10 ấp P, xã P, huyện L.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bản thân Võ Minh P đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù về lại địa phương ngày 30-4-2022 đến ngày 21-9-2022 P tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể:
Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 21-09-2022, Võ Minh P điều khiểm xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen biển số 72K1-356.06 chở Trần Văn H đi trộm cắp tài sản. Khi đến xã Long Mỹ, huyện Đ thì cả hai phát hiện nhà của anh Lê Văn V đang đóng cửa và không người trông coi, bên trong sân nhà có 01 cái thang bằng nhôm (chiều dài là 3,2m; bề rộng là 40cm, trọng lượng là 10kg, 08 bậc thang). P quay xe lại dựng sát bên hông nhà và đứng ngoài cảnh giới để H trèo tường rào vào bên trong sân lấy trộm cái thang nhôm rồi đưa qua tường rào cho P giữ. Sau đó, P và H chở thang nhôm đi tiêu thụ thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang P và H cùng tang vật. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như vừa nêu trên. Lời khai của P phù hợp với lời khai của H và bị hại V.
Tang vật thu giữ của vụ án gồm: 01 cái thang bằng nhôm (chiều dài là 3,2m; bề rộng là 40cm, trọng lượng là 10kg, 08 bậc thang); 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen biển số 72K1-356.06 và 01 điện Tại di động hiệu Nokia 108 màu đỏ đen (imei1: 359.752/04/601.024/8).
Tại Biên bản kết luận định giá tài sản số: 29/KL-HĐĐGTS ngày 10-10-2022, của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận: “01 (một) cái thang nhôm có chiều dài 3,2m, bề rộng là 40cm, trọng lượng 10kg, 8 bậc thang (đã qua sử dụng) có giá trị còn lại là 400.000đ”.
* Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Ngày 22-11-2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại 01 cái thang nhôm cho anh Lê Văn V. Hiện anh V không yêu cầu P bồi thường về trách nhiệm dân sự.
Qua điều tra 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen biển số 72K1-356.06 và 01 điện Tại di động hiệu Nokia 108 màu đỏ đen là tài sản hợp pháp của chị Phạm Thị Kim T (là chị của P). Chị T cho P mượn xe và điện Tại để sử dụng, ngày 21-9-2022 P sử dụng xe đi trộm cắp tài sản, chị T không biết. Ngày 22-11-2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe và điện Tại cho chị T.
Trần Văn H không có tiền án, tiền sự về tội xâm phạm sở hữu, tài sản trộm cắp ngày 21-9-2022 có giá trị nhỏ hơn 2.000.000đ nên hành vi của H không đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngày 26-12-2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền là 2.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 15 của Nghị định số 144/NĐ-CP, ngày 31/12/2021 của Chính Phủ.
Bản cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 09-01-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo Võ Minh P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 01 điều 173 - BLHS.
Tại phiên tòa hôm nay: đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về hành vi của bị cáo Võ Minh P cấu thành tội Trộm cắp tài sản và đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 01 Điều 173; điểm h, s khoản 01 Điều 51; các Điều 38, 50 BLHS xử phạt b/c Võ Minh P với mức án từ … đến … tháng tù. Còn bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát và đề nghị HĐXX cho b/c hưởng mức án nhẹ để sớm được trở về làm người công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định tội danh: Qua lời khai nhận của b/c tại phiên tòa đối chiếu với lời khai bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án thấy hoàn toàn phù hợp. Trên cơ sở đó xác định: Do muốn có tiền để tiêu xài, vào khoảng 10 giờ ngày 21-9-2022, b/c Võ Minh P điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 72K1-356.06 đến rủ Trần Văn H đi trộm cắp tài sản và được H đồng ý. B/c P điều khiển xe chở H đi đến khu vực ấp Mỹ Hòa, xã Long Mỹ thì phát hiện trong sân nhà ông Lê Văn V có 01 cái thang kim loại dạng xếp trị giá 400.000đ không có người trông coi, b/c P dừng xe đứng ngoài cảnh giới để H leo rào vào lấy cái thang ra rồi cùng nhau mang đi tiêu thụ. Trên đường đi bị cơ quan chức năng kiểm tra phát hiện bắt giữ xử lý.
Hành vi lén lút bí mật chiếm đoạt tài sản người khác của Võ Minh P và Trần Văn H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 BLHS.
Trong vụ án này, mặc dù giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000đ nhưng do b/c P đang có tiền án về tội Trộm cắp tài sản nên phải bị xử lý trách nhiệm hình sự về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm b khoản 01 Điều 173 BLHS. Còn Trần Văn H chưa có tiền án nên bị xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Vì vậy bản Cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 09-01-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố b/c Võ Minh P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 01 Điều 173 BLHS là có cơ sở và đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi của b/c là nguy hiểm vì đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xử phạt b/c P với mức án nghiêm nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này b/c không có tình tiết tăng nặng, b/c có các tình tiết giảm nhẹ: phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản được thu hồi giao trả cho bị hại theo quy định tại điểm h, s khoản 01 Điều 51 BLHS. Với các tình tiết trên nên cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho b/c khi lượng hình.
Về trách nhiệm dân sự: Hiện cái thang đã được thu hồi giao trả và ông V không có yêu cầu gì nên không xét đến.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1/ Tuyên bố bị cáo Võ Minh P (Lú) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2/ Áp dụng điểm b khoản 01 Điều 173; điểm h, s khoản 01 Điều 51; các Điều 38, 50 BLHS:
Phạt bị cáo Võ Minh P 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18-11-2022.
3/ Án phí: bị cáo Võ Minh P phải chịu 200.000đ án phí HSST.
4/ Căn cứ Điều 331, 333, 336 và Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng cáo, kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày (đối với người vắng mặt thời hạn trên được tính từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết); Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BRVT. - Sở Tư pháp tỉnh BRVT. - Công an tỉnh BRVT(PC 6) - Công an h Đhuyện Đ - VKSND h Đhuyện Đ. - THADS h Đhuyện Đ. - Bị cáo + ĐS. - Lưu Vphòng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ. Lê Qúy Cường |