vanban.org

Bản án 04/2023/HS-ST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 04/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Văn C: 01 (một) năm 12 (mười hai) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn C phạm tội "Vi phạm quy định về an toàn lao động" - phạm tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nhữ…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HS-ST
Ngày: 04 - 01 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Chi.

2. Ông Phan Kim Mỹ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 484/2022/HSST ngày 22 tháng 12 năm 2022 theo hình thức trực tuyến tại 02 điểm cầu:

+ Điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (Số 1400 đường Đồng Văn Cống, phường Thạnh Mỹ Lợi, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

+ Điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (Số 989 đường Đồng Văn Cống, phường Bình Trưng Tây, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 558/2022/QĐXXST-HS ngày 23 háng 12 năm 2022, đối với bị cáo:

Vũ Văn C, sinh năm: 1979, tại Hưng Yên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ĐN, VM, NQ, thành phố Hải Phòng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Thợ hàn; con ông Vũ Văn L(©) và bà Đoàn Thị K, sinh năm 1948; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ: Phan Thị Thu H, sinh năm 1982 (đã ly hôn), 01 con sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 23/12/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa đặt tại điểm cầu thành phần.

- Người có quyền lợi, Nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Trần Trọng N, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Khu phố BĐ, phường AB, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, có mặt tại điểm cầu trung tâm.

2. Chi nhánh Công ty Cổ phần Cung ứng và Dịch vụ Kỹ thuật Hàng Hải.

Địa chỉ: Khu phố X, Đường Y, phường T, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

- Nguyên đơn dân sự: Công ty TNHH NHT.

Địa chỉ: ấp K, xã A, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Hồ Lỷ S, sinh năm 1983 (Giấy ủy quyền ngày 14/3/2020) (vắng mặt).

- Bị đơn dân sự: Công ty Cổ phần Giao nhận Vận tải X.

Địa chỉ: Phường X, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Võ Trường D (Giấy ủy quyền ngày 15/3/2020) (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Trọng N là nhân viên lái xe của Công ty Cổ phần Giao nhận Vận tải Mỹ Á. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 14/3/2020, N điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51C-928.73 kéo rơmooc biển số 51R-7575, chở Container số hiệu MSKU 1598844 bên trong chứa hàng gỗ nội thất của Công ty Cổ phần Nhà Hưng Thịnh đến cảng ICD Transimex số 7/1 Đường số 1, Khu phố 7, phường Trường Thọ, quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức) để làm thủ tục hải quan xuất khẩu số hàng gỗ trên. Khi đến cảng ICD Transimex thì N gặp anh Nguyễn Văn S là nhân viên kiểm tra container của cảng ICD Transimex kiểm tra trước khi xuất hàng. Anh S phát hiện phía dưới vách bên phải container số hiệu MSKU 1598844 có vết rách khoảng 05cm, bị bong silicon, không đủ điều kiện xuất hàng nên anh S thông báo cho N biết. Lúc này, N muốn công việc xuất hàng được nhanh chóng nên không thông báo về bộ phận điều độ của Công ty Mỹ Á mà điều khiển xe cùng container rách đến khu vực sửa chữa vệ sinh trong cảng ICD Transimex gặp Vũ Văn C (là nhân viên sửa chữa cơ khí thuộc Công ty Cung ứng Dịch vụ Kỹ thuật Hàng Hải) nhờ hàn lại vị trí bị rách hở trên container. C không đồng ý vì đây không phải là nhiệm vụ của C thì N năn nỉ C nhờ hàn giúp vị trí container bị rách hở. C hỏi N container chứa gì thì N nói dối là container chứa chì kim loại, không thể cháy nổ được, nếu có vấn đề gì thì N sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm và gửi tiền bồi dưỡng cho C nên C đồng ý. Lúc này C biết là bên trong container có chứa hàng hóa thì không được phép hàn nhưng nghĩ Container chở kim loại chì ở phía bên trong thì không thể cháy được, nên C trực tiếp sử dụng máy hàn điện có dây hàn hiệu Jasic để hàn khoảng 1-2 phút là xong. Khi thực hiện việc hàn trên, C đã vi phạm Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động đối với máy hàn điện và công việc hàn điện-QCVN 3: 2011/BLĐTBXH của Bộ Lao động Thương binh Xã hội, dẫn đến các hạt kim loại hàn nóng chảy mang nhiệt độ cao tiếp xúc với các vật liệu dễ cháy là gỗ bên trong container gây cháy container. Tuy nhiên lúc đó lửa bên trong container còn nhỏ nên C không biết, nên C sơn lại chỗ hàn màu sơn giống như màu cũ, N cho C 100.000 đồng rồi lái xe đi, còn C tiếp tục thực hiện công việc của mình. Khi hàn container cho N, C không thông báo về Công ty Cung ứng Dịch vụ Kỹ thuật Hàng Hải. Bản thân C đã được đào tạo về nghề hàn điện và đã có bằng nghề điện bậc 3/7 do trường Đào tạo nghề Xây dựng Hải Phòng cấp ngày 15/3/2007. C biết về an toàn lao động trong việc hàn điện, khi hàn container là loại thùng kín thì phải rỗng, không được chứa hàng hóa, phải mở thông cửa, container phải đặt chỗ thoáng khí có khu vực sửa chữa riêng.

Sau khi hàn xong container thì N điều khiển xe ô tô đến khu vực kiểm tra container để kiểm tra lại thông quan hàng hóa (cách chỗ hàn 300 m) thì phát hiện có khói bốc lên, lửa bùng cháy trong container nên báo cho những người xung quanh chữa cháy nhưng không kịp, lửa cháy hỏng hàng hóa trong container. Từ lúc C hàn xong đến lúc N phát hiện lửa cháy container là 15 phút.

Biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện: “Tại vị trí cách cửa container 03m cách mặt đường 0.15m có phát hiện vết sơn xám mới hình chữ nhật kích thước 0.17m x 0.2 m (đánh số 1), phía trên mặt thành ở vị trí số 1 có 02 vết bị ảnh hưởng nhiệt và ám khói nặng dần từ dưới lên trên. Đối diện vị trí đánh số 1 (mặt ngoài) dưới chân thành có vết hàn mới”.

Kết luận giám định số 2845/C09B ngày 12/6/2020 của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

“- Bộ máy hàn hiệu JASIC gửi giám định hoạt động bình thường.

- Khi hàn thùng kim loại nhiệt độ que hàn và các hạt kim loại hàn nóng chảy tạo ra được khi đó bằng hoặc lớn hơn nhiệt độ nóng chảy của sắt (Fe) là 1538oC. Que hàn và các hạt kim loại hàn nóng chảy mang nhiệt độ cao khi tiếp xúc với các vật liệu dễ cháy (giấy, vải, gỗ…) thì có khả năng gây cháy”.

Bản kết luận định giá tài sản số 1295 ngày 18/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức kết luận tổng giá trị tài sản bị thiệt hại (giường, tủ trang điểm, khung gương hiệu, ghế và bàn ăn, bàn cà phê) là 330.547.220 đồng.

Ngày 11/12/2020, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Thủ Đức khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Vũ Văn C.

Ngày 19/3/2021, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức ra Lệnh bắt bị can để tạm giam Vũ Văn C.

Ngày 20/7/2021, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức ra Quyết định truy nã bị can Vũ Văn C.

Ngày 11/8/2021, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Vũ Văn C.

Ngày 23/12/2021, Vũ Văn C đến Công an huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội đầu thú.

Ngày 23/12/2021, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức Quyết định đình nã bị can Vũ Văn C.

Ngày 29/12/2021, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra bị can Vũ Văn C.

Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Vũ Văn C thừa nhận toàn bộ hành vi như trên.

Vật chứng vụ án:

- 01 xe ô tô biển số 51C-928.73 kéo rơmooc biển số 51R-7575, chở Container số hiệu MSKU 1598844.

- 01 máy hàn hiệu JASIC.

Trách nhiệm dân sự: Anh Võ Văn Hiền là đại diện Công ty Giao nhận Vận tải Mỹ Á đã thỏa thuận thống nhất bồi thường cho Công ty Nhà Hưng Thịnh số tiền 370.970.078 đồng bằng cách trừ vào công nợ vận chuyển của Công ty Nhà Hưng Thịnh. Anh Hiền không yêu cầu Vũ Văn C và anh Trần Trọng N bồi thường lại cho Công ty. Anh Lê Quang Hợp đại diện Công ty Cổ phần Cung ứng Dịch vụ Kỹ thuật Hàng Hải không có ý kiến và yêu cầu gì.

Cáo trạng số: 356/CT-VKSTPTĐ ngày 11 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Vũ Văn C về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo điểm d khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 295; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn C 01 (một) năm 01 (một) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2021.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đồng ý với kết luận định giá tài sản, cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của mình. Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội làm lại cuộc đời, sửa chữa lỗi lầm, đi làm chăm sóc mẹ già và con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự đã thống nhất về việc bồi thường thiệt hại, không yêu cầu gì khác và vắng mặt tại phiên tòa. Xét việc các đương sự này vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt họ.

Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng pháp luật.

Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 14/3/2020, anh Trần Trọng N là tài xế Công ty Cổ phần Giao nhận Vận tải Mỹ Á điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51C-928.73, kéo rơmooc biển số 51R-7575, chở Container số hiệu MSKU 1598844 bên trong chứa hàng gỗ nội thất của Công ty Cổ phần Nhà Hưng Thịnh đến cảng ICD Transimex (Số 7/1 Đường số 1, Khu phố 7, phường Trường Thọ, quận Thủ Đức) để làm thủ tục hải quan xuất khẩu số hàng gỗ trên. Do container trên xe bị rách nên anh N nhờ Vũ Văn C là thợ hàn đang làm việc trong cảng ICD Transimex hàn giúp. C đã dùng máy hàn điện có dây hàn hiệu Jasic để hàn container trên gây cháy tài sản trong container có giá trị 330.547.220 đồng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động đối với máy hàn điện và công việc hàn điện-QCVN 3:2011/BLĐTBXH của Bộ Lao động Thương binh Xã hội, dẫn đến các hạt kim loại hàn nóng chảy mang nhiệt độ cao tiếp xúc với các vật liệu dễ cháy là gỗ bên trong container gây cháy; gây thiệt hại tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là nguy hiểm, vi phạm pháp luật nhưng đã cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 295 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Hành vi của bị cáo gây thiệt hại về tài sản có giá trị 330.547.220 đồng nên thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt; gia đình có công với cách mạng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý với hậu quả xảy ra, bị cáo chịu sự tác động, thôi thúc của anh N nên đã quá tự tin khi cho rằng hậu quả không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được hoặc do cẩu thả mà không nhận thức được hậu quả tác hại của hành vi mặc dù phải thấy trước hoặc buộc phải thấy trước. Bên cạnh đó, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt; bị cáo đã bị tạm giam thời gian đủ để nhận thức ra lỗi lầm của mình. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo hình phạt tù với thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam để tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, lao động để trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời thể hiện C sách khoan hồng của Nhà nước và pháp luật.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Công ty Giao nhận Vận tải Mỹ Á đã thỏa thuận bồi thường cho Công ty Nhà Hưng Thịnh số tiền 370.970.078 đồng. Công ty Giao nhận Vận tải Mỹ Á không yêu cầu bị cáo và anh Trần Trọng N bồi hoàn lại. Công ty Cổ phần Cung ứng Dịch vụ Kỹ thuật Hàng Hải không có ý kiến và yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe ô tô biển số 51C-928.73, kéo rơmooc biển số 51R-7575 đã trả lại cho Công ty Giao nhận Vận tải Mỹ Á; Container số hiệu MSKU 1598844 đã trả lại cho Công ty Nhà Hưng Thịnh là chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ.

- Đối với 01 máy hàn hiệu JASIC đã trả lại cho Công ty Cổ phần Cung ứng Dịch vụ Kỹ thuật Hàng Hải là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Đối với hành vi của Trần Trọng N: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn C cho rằng việc bị cáo thực hiện hành vi hàn thùng Container là theo yêu cầu của Trần Trọng N. Trước đó, bị cáo đã từ chối và giải thích cho N rằng bên trong thùng Container có hàng nên không thể hàn. Tuy nhiên, N đã nói dối là bên trong thùng Container chứa chì nên không thể cháy và nếu có xảy ra chuyện gì thì N hoàn toàn chịu trách nhiệm. Theo hợp đồng lao động, N là tài xế Container có trách nhiệm vận chuyển và bảo quản hàng hóa trong thùng Container. Như vậy, cả bị cáo C và N đều có trách nhiệm trong việc đảm bảo an toàn lao động, đều nhận thức được những vi phạm của mình về quy định an toàn lao động nhưng vì quá tự tin khi cho rằng hậu quả không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được hoặc do cẩu thả mà không nhận thức được hậu quả tác hại của hành vi mặc dù phải thấy trước hoặc buộc phải thấy trước. Bên cạnh đó, N là người đưa ra yêu cầu, thôi thúc và nói dối để tạo niềm tin cho bị cáo C thực hiện hành vi phạm tội.

Ngày 15/12/2022, Hội đồng xét xử đã có Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tiến hành điều tra bổ sung để xác định hành vi của Trần Trọng N có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo Điều 295 Bộ luật Hình sự hay không. Tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm cho rằng Trần Trọng N không được đào tạo nghề thợ hàn, không nắm quy trình hàn nên không cấu thành tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về giới hạn của việc xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức chỉ đưa ra xét xử đối với bị cáo C theo Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố. Vì vậy, Hội đồng xét xử kiến nghị cơ quan tiến hành tố tụng xem xét, xử lý đối với hành vi của Trần Trọng N theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.

2. Về hình phạt:

- Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 295; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Vũ Văn C: 01 (một) năm 12 (mười hai) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2021.

- Căn cứ khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo C, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

3. Kiến nghị các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét, xử lý đối với hành vi của Trần Trọng N theo quy định của pháp luật.

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

- Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

- Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

- Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ