- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Q "Tàng trữ hàng cấm". - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; Điều 47; Điều 50; điểm i điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội …
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HS-ST Ngày 13- 01- 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Nguyệt.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Ngọc Luân.
Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hiền - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 106/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 đối với:
Bị cáo: Lê Minh Q, sinh năm 2000, tại Hà Nam; nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường D, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa; 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M và bà Kiều Thị Ư; vợ, con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo đang thực hiện “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Kiều Thị Ư, sinh năm 1972; trú tại: Tổ dân phố C, phường D, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Có mặt.
- Người làm chứng: Anh Lại Đức M, sinh năm 1992. Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1990. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng tháng 10/2022, Lê Minh Q, sinh năm 2000 nơi cư trú tổ dân phố C, phường D, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam có gặp và quen một nam thanh niên tên là K tại khu vực trước cổng công ty TNHH Anam Electronis - khu công nghiệp đồng văn 4, thuộc địa phận xã Đ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Qua nói chuyện Q hỏi K: “Anh có biết chỗ nào bán pháo hoa nổ không, em muốn mua về chơi tết”. K nói: “để anh tìm chỗ, có gì anh báo sau”. Khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 20/11/2022, Q đang ở nhà thì nhận được điện thoại của K gọi nói: “Em xuống Lê Hồ lấy pháo nhé”. Q đồng ý, điều khiển xe mô tô BKS 90A1-018.63 đến đường ĐH01 thuộc địa phận xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam gặp K. K nói: “Pháo của em đây”. Q nói: “Của em hết bao nhiêu”. K nói: “Của em hết bốn triệu” rồi đưa cho Q một bao tải dứa màu trắng, Q mở ra thấy bên trong có 06 hộp pháo lền bê bao tải đặt lên xe mô tô buộc lại rồi lấy 4.000.000đồng đưa cho Kiên sau đó điều khiển xe mô tô đi về, khi đi được khoảng 50m thì bị lực lượng Công huyện Kim Bảng kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên xe mô tô do Q điều khiển 01 bao tải dứa màu trắng, bên trong có 06 hình hộp vuông kích thước (15 x 15 x 15) cm đều dán giấy màu vàng đỏ có chữ nước ngoài, niêm phong trong hộp catton ký hiệu QT01. Thu trong túi quần bên phải của Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung niêm phong ký hiệu QT02 và 01 xe mô tô BKS 90A1-018.63. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Minh Q không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.
Tại bản kết luận giám định số 1700 ngày 23/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu ký hiệu QT01 là pháo nổ (loại pháo hoa nổ) tổng khối lượng là 9,055kg”.
Về nguồn gốc số pháo nổ: Lê Minh Q khai nhận mua của nam thanh niên là K ở địa phận xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Do Q không biết họ tên, tuổi, địa chỉ, không nhớ đặc điểm nhận dạng của K nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Bảng không có căn cứ làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật được.
Đối với 01 xe mô tô BKS 90A1-018.63 là tài sản hợp pháp của bà Kiều Thị Ư là mẹ đẻ của Q. Bà Ư không biết việc Q tự ý lấy xe để dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Bảng đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho bà Ư là phù hợp với quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKSKB ngày 21/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố Lê Minh Q về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Minh Q phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Minh Q từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 thùng carton KT (37 x 42 x 35)cm, kí hiệu QT01 được niêm phong dán kín. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh-đen, màn hình cảm ứng, điện thoại cũ, đã qua sử dụng. Ngoài ra Viện kiểm sát còn đề nghị về án phí và quyền kháng cáo. Bị cáo nhất trí với cáo trạng, luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, bản kết luận giám định về thời gian, địa điểm cùng toàn bộ các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Tòa án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 20/11/2022 tại đường ĐH01 thuộc thôn Phương Thượng 2, xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, Công an huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam bắt quả tang Lê Minh Q cất giấu 9,055kg pháo nổ trong thùng catton để trên xe môtô BKS 90A1-018.63 do Lê Minh Q điều khiển. Hành vi đó của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất kinh doanh một số loại hàng cấm, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Bị cáo thực hiện do lỗi cố ý, nhận thức rõ hành vi vận chuyển 9,055kg pháo nổ của mình, mục đích để sử dụng nhưng không có giấy phép hợp lệ là trái pháp luật vì pháo nổ là một trong các loại hàng hóa Nhà nước không cho phép lưu thông trên thị trường mà vẫn thực hiện.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của bộ luật hình sự.
Về hình phạt:
Hình phạt chính: Khi quyết định hình phạt Toà án cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng án treo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề tự do, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số pháo nổ: Bị cáo khai nhận mua của một nam thanh niên tên là Kiên nhưng bị cáo không biết họ tên, tuổi, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ được.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc xe mô tô BKS 90A1-018.63 quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bà Kiều Thị Ư, Cơ quan điều tra Công an huyện Kim Bảng đã trả lại cho Ư nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Đối với 9,055kg pháo nổ được niêm phong trong hộp catton có KT (37x 42 x 35)cm ký hiệu QT01 là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh - đen thu giữ của bị cáo, liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điều 47; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; Điều 47; Điều 50; điểm i điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Lê Minh Q phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Lê Minh Q 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Minh Quân cho Ủy ban nhân dân phường D, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự 2019.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 01 thùng carton KT (37x 42 x 35)cm ký hiệu QT01 được niêm phong dán kín. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh - đen, điện thoại cũ, đã qua sử dụng. (Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản bàn giao giữa cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng ngày 22/12/2022).
3. Án phí: Bị cáo Lê Minh Q phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Kim Bảng; - Chi cục T.H.A dân sự h.Kim Bảng; - Bị cáo; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Nguyệt |