vanban.org

Bản án 04/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 24/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 16 (mười sáu) tháng cải tạo không giam giữ; thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản án. Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho Uỷ ban nhân d…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Định - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BA ĐỒN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HS-ST
Ngày: 24 - 02 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Đức

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Công Nghĩa và Bà Đoàn Thị Thái

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2023, theo Quyết Đ đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1974 tại thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn V, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 0/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Hữu Tr (chết) và bà Nguyễn Thị M (chết); vợ: Ngô Thị T, sinh năm 1976 (đã ly hôn); con: có 02 đứa, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 25/8/2004, bị Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” kể từ ngày 07/11/2022 cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1974; nơi cư trú: thôn T, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Hồ Đăng T, sinh năm 2000; nơi cư trú: thôn T, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 0 giờ 30 phút ngày 04/9/2022, Nguyễn Văn Đ đi bộ từ nhà đến thôn T, xã Q, thị xã B thì thấy cửa sau của anh Nguyễn Văn S không đóng nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Đ đi bộ theo mép sông phía sau nhà anh S rồi đột nhập vào nhà qua lối cửa sau, khi đi vào phòng khách thì thấy 01 khúc gỗ màu vàng, chạm khắc, đã làm thành phẩm có hình con Dê. Đ ôm khúc gỗ đi theo lối cửa sau đem ra ngoài rồi quay lại đi vào phòng ngủ thì thấy hai người đang ngủ trên giường và 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu xanh lam để trên gối đầu giường. Đ đi đến lấy trộm máy điện thoại bỏ vào túi quần và đi ra vác khúc gỗ đã lấy trộm trước đó đi về nhà. Khi Đ đi được một đoạn thì bị người dân phát hiện và trình báo Công an xã Quang Minh, thị xã Ba Đồn, lập biên bản sự việc trên.

Theo công văn trả lời của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình số 908 ngày 30/9/2022, đối với khúc gỗ đã làm thành phẩm trên thì hiện nay chưa xác Đ được tên khoa học, chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy Đ về nhóm, loài đối với lâm sản này mà người dân thường gọi là Hương Giáng. Tại bản Kết luận Đ giá tài sản số 30/KL-HĐ ngày 25/10/2022 của Hội đồng Đ giá trong tố tụng hình sự thị xã Ba Đồn kết luận: tại thời điểm bị mất trộm ngày 04/9/2022, 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu xanh lam đã qua sử dụng có giá trị 1.500.000 đồng; 01 khúc gỗ màu vàng đã làm thành phầm cao 56cm, nơi rộng nhất dài 33cm, ở giữa rỗng, phía trên phân thành hai nhánh, trong đó một nhánh có chạm khắc hình con Dê có giá trị 1.600.000 đồng; tổng giá trị tài sản tại thời điểm bị cáo chiếm đoạt là 3.100.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn đã thu giữ từ Nguyễn Văn Đ 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu xanh lam đã qua sử dụng, có số Imel 1: 354581111292976, số Imei 2: 344581111292984 và 01 khúc gỗ màu vàng, chạm khắc, đã làm thành phẩm có hình con Dê. Quá trình điều tra, xác Đ số vật chứng trên là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn S nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn đã ra Quyết Đ xử lý vật chứng số 99 ngày 19/12/2022 trả lại máy điện thoại và khúc gỗ trên cho anh S.

Về dân sự: bị hại anh Nguyễn Văn S đã nhận lại đủ các tài sản bị mất trộm, không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn Đ phải bồi thường về dân sự.

Tại Cáo trạng số 04/CT-VKSBĐ ngày 12 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy Đ tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn: giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ theo toàn bộ nội dung Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

+ Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 15 đến 18 tháng Cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

+ Về hình phạt bổ sung: không áp dụng đối với bị cáo.

+ Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu các tài sản bị bị cáo chiếm đoạt là đúng quy định, không xem xét gì thêm.

+ Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

+ Tuyên bị cáo phải chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Nguyễn Văn Đ nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhất trí với toàn bộ nội dung Cáo trạng và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn đã truy tố, thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như tại Cơ quan điều tra, tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt, cải tạo, giáo dục tại địa phương.

- Bị hại, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, những người này đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường, xét việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng khách quan đến kết quả giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử quyết Đ xét xử vắng mặt.

NHẬN Đ CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận Đ như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: tại phiên tòa, bị cáo khai nhận, lời khai của bị cáo phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm và hiện trường nơi xảy ra vụ án, vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án, được tranh tụng tại phiên tòa, đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn đã truy tố, quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, có cơ sở xác định: khoảng 0 giờ 30 phút ngày 04/9/2022, tại thôn T, xã Q, thị xã B, lợi dụng sơ hở của anh Nguyễn Văn S, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt 01 khúc gỗ màu vàng, chạm khắc, đã làm thành phẩm có hình con Dê và 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu xanh lam, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt được định giá là 3.100.000 đồng (Ba triệu một trăm nghìn đồng). Hội đồng xét xử kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 04/CT-VKSBĐ ngày 12/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: tính chất vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự; gây hoang mang, lo lắng cho người dân tại địa phương. Do vậy, cần xét xử bị cáo với mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có Đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy Đ tại điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu, ngày 25/8/2004, bị Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

[5] Về hình phạt và hình phạt bổ sung:

Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo tại địa phương; xét thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo giáo dục tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa áp dụng hình Cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là phù hợp.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định bị cáo nghề nghiệp đánh cá, thu nhập không ổn định, không có khả năng thi hành án. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn ra Quyết định xử lý vật chứng số 99 ngày 19/12/2022 trả lại các tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt cho bị hại là đúng quy định, Hội đồng xét xử không xem xét gì thêm.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự;

Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về “Mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án”.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 16 (mười sáu) tháng cải tạo không giam giữ; thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho Uỷ ban nhân dân xã Quảng Hòa, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình phối hợp cùng với gia đình để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

3. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

4. Về án phí: buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/02/2023); bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.

Cỡ chữ