vanban.org

Bản án 04/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng Tuyên án 11/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

T2ên bố: Các bị cáo Hồ Văn C và Đặng Trần Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Hồ Văn C 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp H1nh hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 24/5/2022. Xử phạt: Bị cáo Đặng Trần Văn T1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp H1nh hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 24/5/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? T2ên bố: Các bị cáo Hồ Văn C và Đặng Trần Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HS-ST
Ngày: 11 - 01- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN- TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Lâm Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Sơn 2. Ông Nguyễn Tuấn Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang- Là Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2022 đối với các bị cáo: 1. HỒ VĂN C. Sinh năm: 1998, tại Bình Định. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 88, phường Nại Hiên Đ, quận Sơn T, TP. Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Mộng H và bà Lê Thị H1; Bản thân chưa có vợ con; Tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 18/8/2017 bị Tòa án nhân dân TP. Đà Nẵng xử phạt 03 năm tù về tội “trộm cắp tài sản”, ra trại ngày 22/3/2020 (chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường dân sự); Bị cáo bị bắt ngày 24/5/2022- Có mặt tại phiên tòa. 2. ĐẶNG TRẦN VĂN T1. Sinh năm: 1999, tại Đà Nẵng. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 92, phường Nại Hiên Đ, quận Sơn T, TP. Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn L và bà Trần Thị Thu S; Bản thân chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 24/5/2022- Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Trần Văn T1: Bà Nguyễn Thị Hường- Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước TP. Đà Nẵng- Có mặt.

- Bị hại: 1. Ông Võ Hữu H2. Sinh năm: 1983 Trú tại: 60 Thế L1, phường An Hải B, quận Sơn T, TP. Đà Nẵng- Vắng mặt; 2. Ông Nguyễn Q. Sinh năm: 1983 Trú tại: Tổ 03 phường Khuê M, quận Ngũ Hành S1, TP. Đà Nẵng- Có mặt; 3. Ông Huỳnh Tấn L2. Sinh năm: 1994 Trú tại: Tổ 72 phường Hòa H3, quận Ngũ Hành S1, TP. Đà Nẵng- Vắng mặt; 4. Ông Hồ Thăng G. Sinh năm: 1972 Trú tại: Tổ 03 phường Khuê M, quận Ngũ Hành S1, TP. Đà Nẵng- Vắng mặt; 5. Ông Nguyễn Văn T2. Sinh năm: 1995 Trú tại: 213 Trần Kim X, phường Hòa X1, quận Cẩm L3, TP. Đà Nẵng- Vắng mặt; 6. Ông Đỗ Văn Đ. Sinh năm: 1972 Trú tại: 247 Buôn T3, xã Ea H’đ1, huyện Cư M’g1, tỉnh Đắk Lắk. Ông Đ ủy quyền cho bà Đỗ Anh Đ1. Sinh năm: 2001; địa chỉ: K42/1 đường 3/2 phường Thuận P, quận Hải C1, TP. Đà Nẵng- Vắng mặt; 7. Ông Lê Thanh T4. Sinh năm: 1964 Trú tại: Số 58 Phạm Hữu K, phường Mỹ A, quận Ngũ Hành S1, TP. Đà Nẵng-Vắng mặt; 8. Ông Nguyễn Ngọc T5. Sinh năm: 1999 Nơi thường trú: Thôn Thanh Ly 1, xã Bình N, huyện Thăng B, tỉnh Quảng Nam; Nơi ở hiện tại: K45/64 đường K20, tổ 35 phường Khuê M, quận Ngũ Hành S1, TP. Đà Nẵng- Có mặt; 9. Ông Nguyễn Quốc H3. Sinh năm: 1992 Trú tại: Số 50, Trần Văn C2, phường Hòa X1, quận Cẩm L3, TP. Đà Nẵng- Vắng mặt; 10. Ông Nguyễn Văn Lý H4. Sinh năm: 1995 Nơi thường trú: Xóm 7, xã Thanh V, huyện Thanh C3, tỉnh Nghệ An; Tạm trú: 123 Lý Văn P1, tổ 69 phường Hòa H3, quận Ngũ Hành S1, TP. Đà Nẵng-Có mặt; 11. Ông Nguyễn Văn D. Sinh năm: 1996 Trú tại: Số 182, Thanh H4, tổ 68 phường Hòa X1, quận Cẩm L3, TP. Đà Nẵng-Vắng mặt; 12. Bà Lê Trần Ngân T6. Sinh năm: 2002 Nơi thường trú: Xã Tế L3, huyện Nông C3, tỉnh Thanh Hóa; Tạm trú: 757 Nguyễn Hữu T7, phường Khuê T8, quận Cẩm L3, TP. Đà Nẵng-Vắng mặt; 13. Ông Lê Bảo L4. Sinh năm: 1998 Nơi thường trú: Xã Gio M, huyện Gio L5, tỉnh Quảng Trị; Tạm trú: Phòng 103 số 757 Nguyễn Hữu T7, phường Khuê T8, quận Cẩm L3, TP. Đà Nẵng- Vắng mặt; 14. Bà Lê Thị Kim L6. Sinh năm: 1969 Trú tại: Tổ 83 phường Hòa Khánh B1, quận Liên C4, TP. Đà Nẵng- Vắng mặt.

- Người có quyền ợi, nghĩa vụ liên quA1: 1. Ông Võ Hữu H5. Sinh năm: 1988 Trú tại: 35 Sơn Thủy Đông 1, phường Hòa H3, quận Ngũ Hành S1, TP. Đà Nẵng-Có mặt; 2. Ông Nguyễn Minh H6. Sinh năm: 1996 Tạm trú: 428/23 Trần Cao V2, phường Tam T9, quận Thanh K, TP. Đà Nẵng- Vắng mặt; 3. Bà Đỗ Anh Đ1. Sinh năm: 2001 Trú tại: K42/1 đường 3/2 phường Thuận P, quận Hải C1, TP. Đà Nẵng- Vắng mặt; 4. Bà Trần Thị Thanh V3. Sinh năm: 1980 Trú tại: Tổ 45 phường Hòa X1, quận Cẩm L3, TP. Đà Nẵng- Vắng mặt; 5. Ông Tạ Quang T10. Sinh năm: 1996 Trú tại: Tổ 08 thôn Thuận A1, xã Tam Anh B1, huyện Núi T11, tỉnh Quảng Nam-Vắng mặt; 6. Ông Nguyễn Minh T12. Sinh năm: 1987 Tạm trú: Số 569 Nguyễn Tất T13, phường Xuân H4, quận Hải C1, TP. Đà Nẵng-Vắng mặt; 7. Ông Nguyễn Tấn Q1. Sinh năm: 1991 Tạm trú: Khu phố 01, thị trấn Hà L7, huyện Thăng B, tỉnh Quảng Nam- Vắng mặt; 8. Ông Võ Trung N. Sinh năm: 1986 Trú tại: Tổ 07 Qúy P1, xã Bình Q2, huyện Thăng B, tỉnh Quảng Nam- Vắng mặt; 9. Ông Đặng Minh V. Sinh năm: 1988 Trú tại: Tổ 02 thôn Thanh Đ2, xã Cẩm T13, TP. Hội A, tỉnh Quảng Nam- Vắng mặt; 10. Ông Dương Ngọc T14. Sinh năm: 1992 Trú tại: Tổ 09 thôn Thanh Ly 1, xã Bình N, huyện Thăng B, tỉnh Quảng Nam- Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 02/5/2022 đến ngày 24/5/2022, Hồ Văn C rủ Đặng Trần Văn T1 (cả hai đều không có nghề nghiệp) thực hiện 14 vụ trộm cắp xe máy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, với cùng phương thức, thủ đoạn như sau: T1 điều khiển xe chở C, khi phát hiện xe mô tô không khóa cổ, không có ai trông coi thì T1 đứng ngoài cảnh giới để C vào dắt trộm xe. Sau đó, C và T1 đem xe đi tiêu thụ để lấy tiền chi phí cho việc ăn uống, sinh hoạt và tiêu xài cá nhân; cụ thể:

Vụ thứ 1: Khoảng 12 giờ ngày 02/5/2022, T1 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius (không nhớ biển kiểm soát) do C mượn của D (không rõ nhân thân, lai lịch) chở C đi tìm xe mô tô để trộm cắp. Khi đến trước nhà số 99 đường Nguyễn Khắc V, phường Khuê M, quận Ngũ Hành S1, TP. Đà Nẵng thì phát hiện xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen biển kiểm soát 43D1-188.51 của ông Võ Hữu H3. T1 đứng ngoài cảng giới, C đi đến nổ máy xe rồi cả hai đưa xe trộm cắp được đến nhà nghỉ (không nhớ rõ tên, địa chỉ) cất giấu. Sau đó, C trả xe mô tô hiệu Yamaha Sirius cho D, còn xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen biển kiểm soát 43D1-188.51 C và T1 thay bằng biển kiểm soát 73H1-352.20 (do C và T1 trộm cắp tại khu vực dãy trọ ở phường Mỹ An, không xác định được địa chỉ cụ thể) và vứt biển kiểm soát 43D1-188.51 rồi sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp ở 08 vụ tiếp theo.

Vụ thứ 2: Khoảng 12 giờ ngày 06/5/2022, T1 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, gắn biển kiểm soát 73H1-352.20 chở C đi tìm xe mô tô để trộm cắp. Khi đến trước nhà ông Nguyễn Q tại tổ 3, phường Khuê M, quận Ngũ Hành S1, TP. Đà Nẵng thì phát hiện xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 43H1-066.04 của ông Q. T1 đứng ngoài cảnh giới để C đến dắt xe rồi cả hai đem xe đến thị trấn Hà Lam, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam bán cho một người không xác định được nhân thân, lai lịch với giá 1.000.000 đồng.

Vụ thứ 3: Khoảng 10 giờ ngày 09/5/2022, T1 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, gắn biển kiểm soát 73H1-352.20 chở C đi tìm xe mô tô để trộm cắp. Khi đến trước nhà số 06 đường Bát Nàn Công C, phường Hòa H3, quận Ngũ Hành S1, TP. Đà Nẵng thì phát hiện xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu trắng đỏ biển kiểm soát 43F1-284.94 của ông Huỳnh Tán L2 để ở vỉa hè trước nhà. T1 đứng ngoài cảnh giới để C đến dắt xe. Sau đó, cả hai đem xe trộm cắp được vào TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam bán cho Tạ Quang T8 với giá 6.000.000 đồng.

Vụ thứ 4: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 11/5/2022, T1 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, gắn biển kiểm soát 73H1-352.20 chở C đi tìm xe mô tô để trộm cắp. Khi đến nhà số 03 đường Võ Duy Đ, phường Khuê M, quận Ngũ Hành S1, TP. Đà Nẵng thì phát hiện xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen bạc biển kiểm soát 43X2-5344 của ông Hồ Thăng G để ở trước nhà. T1 đứng ngoài cảnh giới để C đến dắt xe.

Vụ thứ 5: Khoảng trưa ngày 11/5/2022, T1 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, gắn biển kiểm soát 73H1-352.20 chở C đi tìm xe mô tô để trộm cắp. Khi đến trước nhà số 213 đường Trần Kim X, phường Hòa X1, quận Cẩm L3, TP. Đà Nẵng thì phát hiện xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen biển kiểm soát 73H1-434.70 của ông Nguyễn Văn T2 để ở trước nhà. T1 đứng ngoài cảnh giới để C đến dắt xe. Sau đó, cả hai đem xe đến khu vực gần bệnh viện huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam bán cho ông Nguyễn Tấn Q với giá 3.000.000 đồng. Sau đó, ông Q đã bán lại xe này cho ông Võ Trung N với giá 3.000.000 đồng.

Vụ thứ 6: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 12/5/2022, T1 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, gắn biển kiểm soát 73H1-352.20 chở C đi tìm xe mô tô để trộm cắp. Khi đến trước nhà số 42/1 đường 3 tháng 2, phường Thuận P, quận Hải C1, TP. Đà Nẵng thì phát hiện xe mô tô hiệu Honda AirBlade, màu đỏ đen biển kiểm soát 47H1-24308 của bà Đỗ Anh Đ1 để ở trước nhà. T1 đứng ngoài cảnh giới để C đến dắt xe. Sau đó, cả hai mAg xe này đến khu vực đường Núi Thànnh, TP. Đà Nẵng bán cho một người không rõ nhân thân, lai lịch với giá 2.000.000 đồng.

Vụ thứ 7: Khoảng 03 giờ ngày 13/5/2022, T1 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, gắn biển kiểm soát 73H1-352.20 chở C đi tìm xe mô tô để trộm cắp. Khi đến trước nhà số 58 đường Phạm Hữu K, phường Mỹ A, quận Ngũ Hành S1, TP. Đà Nẵng thì phát hiện xe mô tô hiệu Honda SH, màu trắng biển kiểm soát 43C1-211.12 của ông Lê Thanh T4 để ở trong nhà. T1 đứng ngoài cảnh giới để C đi vào nhà dắt xe. Sau đó, cả hai đem xe đến thành phố Hội An cầm cố cho ôngh Đặng Minh V với số tiền 10.000.000 đồng.

Vụ thứ 8: Khoảng 03 giờ ngày 16/5/2022, T1 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, gắn biển kiểm soát 73H1-352.20 chở C đi tìm xe mô tô để trộm cắp. Khi đến trước dãy trọ tại số K45/64 đường K20, phường Khuê M, quận Ngũ Hành S1, TP. Đà Nẵng thì phát hiện xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen biển kiểm soát 92D1-457.08 của ông Nguyễn Ngọc T5 đang để ở hành lang dãy trọ. T1 đứng ngoài cảnh giới để C đi vào dắt xe. Sau đó, cả hai đem xe trộm được vào thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam bán cho Tạ Quang T8 với giá 3.000.000 đồng.

Vụ thứ 9: Khoảng 05 giờ ngày 16/5/2022, T1 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, gắn biển kiểm soát 73H1-352.20 chở C đi tìm xe mô tô để trộm cắp. Khi đến trước khách sạn Phúc Thanh thì phát hiện xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu vàng đen biển kiểm soát 92E1-120.13 của ông Nguyễn Minh H6 để ở tầng hầm khách sạn. T1 đứng ngoài cảnh giới để C đi vào dắt xe. Sau đó, cả hai mang xe này vào một tiệm sửa xe ở TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (không nhớ tên, địa chỉ) dán decal đổi thành màu xanh đen rồi sử dụng làm phương tiện thực hiện các vụ trộm cắp sau.

Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, gắn biển kiểm soát 73H1-352.20 (xe của vụ trộm số 1) do đã bị hư hỏng nên C đã cho một người tên T4 (không rõ nhân thân, lai lịch, là bạn bè quen biết ngoài xã hội của C).

Vụ thứ 10: Khoảng 03 giờ ngày 17/5/2022, T1 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu xanh đen, gắn biển kiểm soát 92E1-120.13 chở C đi tìm xe mô tô để trộm cắp. Khi đến trước dãy trọ nhà số 123 đường Lý Văn P, phường Hòa H3, quận Ngũ Hành S1, TP. Đà Nẵng thì phát hiện xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu đen biển kiểm soát 37E1-621.66 của ông Nguyễn Văn Lý H4 để ở nhà xe của dãy trọ. T1 đứng ngoài cảnh giới để C đi vào dắt xe. Sau đó, cả hai tháo biển kiểm soát 37E1-621.66 thay vào xe mô tô hiệu Yamaha Exciter (xe trộm cắp của vụ thứ 9) và vứt biển kiểm soát 92E1-120.13 rồi mang xe trộm được ở vụ này vào TP. Tam kỳ, tỉnh Quảng Nam bán cho một người tên T8 (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 7.500.000 đồng.

Vụ thứ 11: Khoảng 02 giờ ngày 19/5/2022, T1 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter trộm được ở vụ thứ 9, gắn biển kiểm soát 37E1-621.66 chở C đi tìm xe mô tô để trộm cắp. Khi đến trước nhà số 182 đường Thanh H, phường Hòa X1, quận Cẩm L3, TP. Đà Nẵng thì phát hiện xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh biển kiểm soát 43G1-290.33 của ông Nguyễn Văn D để phòng khách. T1 đứng ngoài cảnh giới để C đi vào dắt xe. Sau đó, cả hai đem xe vào TP. Hội An, tỉnh Quảng Nam cầm cố cho ông Đặng Minh V với số tiền 10.000.000 Đ.

Vụ thứ 12: Khoảng 03 giờ ngày 19/5/2022, sau khi trộm cắp vụ thứ 11 thì C và T1 tiếp tục đến trước dãy trọ tại địa chỉ số 757 Nguyễn Hữu T7, phường Khuê T8, quận Cẩm L3, TP. Đà Nẵng thì phát hiện xe mô tô hiệu Honda Vision, màu trắng biển kiểm soát 36M5-021.83 của bà Lê Trần Ngân TrAg để ở trong dãy trọ. T1 đứng ngoài C giới để C đi vào dắt xe. Sau đó, cả hai đem xe trộm được (có giấy tờ trong cốp xe) cất giấu tại khu vực đất trống (không nhớ rõ vị trí) cất giấu. Đến ngày 22/5/2022, cả hai mAg xe này đến tiệm cầm đồ KuEm Dương do ông Dương Ngọc T14 làm chủ, cầm cố với số tiền 10.000.000 đồng.

Vụ thứ 13: Khoảng 05 giờ ngày 19/5/2022, sau khi trộm được xe ở vụ thứ 12, C và T1 quay lại dãy nhà trọ tại số 757 Nguyễn Hữu T7, phường Khuê T8, quận Cẩm L3, TP. Đà Nẵng trộm cắp xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu xám đen biển kiểm soát 74F1-220.92 của ông Lê Bảo L4. Sau đó, cả hai đem xe vào TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam bán cho Tạ Quang T8 với giá 3.000.000 đồng.

Vụ thứ 14: Khoảng 04 giờ ngày 24/5/2022, T1 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter trộm được ở vụ thứ 9, gắn biển kiểm soát 37E1-621.66 chở C đi tìm xe mô tô để trộm cắp. Khi đến trước chung cư B2, thuộc tổ 45, phường Hòa X1, quận Cẩm L3, TP. Đà Nẵng thì phát hiện xe mô tô hiệu Honda AirBlade, màu đỏ đen biển kiểm soát 43E1-329.74 của bà Trần Thị Thanh V2 để ở sân chung cư. T1 đứng ngoài cảnh giới để C đi vào dắt xe. Sau đó, cả hai đem xe cất giấu tại bệnh viện đa khoa Vĩnh Đức, thị trấn Vĩnh Điện, tỉnh Quảng Nam.

Đến 20 giờ 15 phút ngày 24/5/2022, khi T1 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter trộm được ở vụ thứ 9, gắn biển kiểm soát 37E1-621.66 chở C đi trên địa bàn phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng thì bị Lực lượng tuần tra - Phòng Cảnh sát hình sự Công an TP. Đà Nẵng kiểm tra, mời về trụ sở Công an TP. Đà Nẵng để làm việc và đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản nêu trên.

* Tang vật tạm giữ:

- Xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen bạc biển kiểm soát 43X2-5344;

- Xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen gắn biển kiểm soát 92G1-044.73;

- Xe mô tô hiệu Honda SH, màu trắng biển kiểm soát 43C1-211.12;

- Xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh đen gắn biển kiểm soát 37E1-621.66;

- Xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh biển kiểm soát 43G1-290.33;

- Xe mô tô hiệu Honda Vision, màu trắng biển kiểm soát 36M5-021.83 kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký xe biển kiểm soát 36M5-021.83;

- Xe mô tô hiệu Honda AirBlade, màu đỏ đen biển kiểm soát 43E1-329.74.

- 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh dương và 01 CMND của Hồ V C.

- 06 đĩa DVD ghi nhận diễn biến hành vi trộm cắp của Hồ Văn C và Đặng Trần Văn T1.

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 119 ngày 05/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đà Nẵng kết luận xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen biển kiểm soát 73H1-434.70 (đã thu hồi được) có giá trị là 10.650.000 đồng.

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 120 ngày 05/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đà Nẵng kết luận (đối với 06 xe mô tô đã thu hồi được): Xe mô tô hiệu Yamaha Sirus, màu bạc đen biển kiểm soát 43X2-5344; xe mô tô hiệu Honda SH, màu trắng biển kiểm soát 43C1-211.12; xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu vàng đen biển kiểm soát 92E1-120.13; xe mô tô hiệu Honda Vision, màu trắng biển kiểm soát 36M5-021.83; xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh biển kiểm soát 43G1-290.33 và xe mô tô hiệu Honda AirBlade, màu đen biển kiểm soát 43E1-329.74 có tổng giá trị là 169.021.115 đồng.

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 57 ngày 05/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Ngũ Hành Sơn kết luận (đối với 07 xe mô tô không thu hồi được): Xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen biển kiểm soát 43D1-188.51; xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen biển kiểm soát 43H1-066.04; xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu trắng đỏ biển kiểm soát 43F1-284.94; xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu đỏ trắng đen biển kiểm soát 47H1-243.08; xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen biển kiểm soát 92D1-457.08; xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu đen biển kiểm soát 37E1-621.66 và xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu xám đen biển kiểm soát 74F1-220.92 có tổng giá trị là 127.300.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản của 14 chiếc xe mô tô mà Hồ Văn C và Đặng Trần Văn T1 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Trộm cắp tài sản là 306.971.115 đồng.

Với nội dung trên tại bản Cáo trạng số 82/CT-VKS-NHS, ngày 30/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo Hồ Văn C và Đặng Trần Văn T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Hồ Văn C và Đặng Trần Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm a, b, g, h khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hồ Văn C mức án từ 08 năm đến 09 năm tù.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm a, b, g khoản 1 Điều 52; điểm b, r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Trần Văn T1 mức án từ 07 năm đến 08 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại gồm: Ông Hồ Thăng G; ông Nguyễn V T2; ông Lê Thanh T4; ông Nguyễn Quốc H10; ông Nguyễn Văn D; bà Lê Trần Ngân Trang và bà Lê Thị Kim L6 đã nhận lại xe và không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự.

Các bị hại gồm: Ông Võ Hữu H2 yêu cầu bồi thường số tiền 7.800.000 đồng; ông Nguyễn Q yêu cầu bồi thường số tiền 10.000.000 đồng; ông Huỳnh Tấn L2 yêu cầu bồi thường số tiền 24.000.000 đồng; ông Đỗ Văn Đ yêu cầu bồi thường số tiền 30.000.000 đồng; ông Nguyễn Ngọc T5 yêu cầu bồi thường số tiền 10.000.000 đồng; ông Nguyễn Văn Lý H4 yêu cầu bồi thường số tiền 47.000.000 đồng; ông Lê Bảo L4 yêu cầu bồi thường số tiền 14.000.000 đồng.

- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan yêu cầu bồi thường dân sự như sau: Ông Nguyễn Minh T12 yêu cầu bồi thường số tiền 1.200.000 đông; ông Võ Trung N yêu cầu bồi thường số tiền 3.000.000 đồng; ông Đặng Minh V yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000 đồng; ông Dương Ngọc T14 yêu cầu bồi thường số tiền 10.000.000 đồng.

Về vật chứng: Ngày 08/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng ra Quyết định xử lý vật chứng trả các xe mô tô tạm giữ cho các chủ sở hữu là có căn cứ.

Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh dương của Hồ Văn C do liên quan đến hành vi phạm tội.

Đề nghị trả lại cho Hồ Văn C 01 CMND mang tên Hồ Văn C do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Đối với 06 đĩa DVD ghi nhận diễn biến hànhnh vi trộm cắp của Hồ Văn C và Đặng Trần Văn T1 là chứng cứ vụ án, đề nghị tiếp tục tạm giữ theo hồ sơ vụ án.

Đối với biển kiểm soát 37E1-621.66 của xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu đen của thuộc sở hữu của Nguyễn Văn Lý H4, do ông H4 không có nhu cầu nhận lại biển kiểm soát này nên đề nghị tiêu hủy.

Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo T1: Thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố. Tuy nhiên, do bị cáo kém hiểu biết về pháp luật nên đã phạm tội, đề nghị Hội dồng xét xử xem xét về nhân thân bị cáo T1 có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, cha bị cáo bị bệnh nặng, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường được một phần để khắc phục hậu quả. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với hành vi phạm tội có tổ chức, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo; bởi vì các bị cáo không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau; trước khi bị cáo trộm cắp tài sản thì bị cáo có công ăn việc làm.

Bị hại: Ông Nguyễn Q, ông Nguyễn Ngọc T5 và ông Nguyễn Văn Lý H4 có ý kiến:

- Về phần dân sự; ông Q yêu cầu các bị cáo trả 10.000.000 đồng, ông T5 yêu cầu trả 10.000.000 đồng và ông H4 yêu cầu trả 47.000.000 đồng;

- Về hình sự không ai có ý kiến gì.

Những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Tại phiên tòa, các bị cáo Hồ Văn C và Đặng Trần Văn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo, xét lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định như sau:

Từ ngày 02/5/2022 đến ngày 24/5/2022, Đặng Trần Văn T1 điều khiển xe mô tô chở Hồ Văn C đi trộm cắp, khi phát hiện xe mô tô không khóa cổ, không có ai trông coi thì T1 đứng ngoài cảnh giới để C trực tiếp vào trộm cắp. Toàn bộ số tiền có được từ việc trộm cắp, C và T1 sử dụng cho chi phí ăn uống, sinh hoạt hàng ngày và tiêu xài cá nhân. Với phương thức, thủ đoạn như trên, Hồ Văn C và Đặng Trần Văn T1 đã thực hiện 14 vụ trộm cắp xe máy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 306.971.115 đồng. [3] Hành vi trên của các bị cáo Hồ Văn C và Đặng Trần Văn T1 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự, như cáo trạng số 82/CT-VKSNHS ngày 30/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo Hồ Văn C và Đặng Trần Văn T1 thì thấy: Cả hai bị cáo là thanh niên đã trưởng thành, lẽ ra các bị cáo phải lo lao động, tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội, nhưng các bị cáo lười lao động, coi thường pháp luật, chỉ muốn có tiền tiêu xài thỏa mãn mục đích cá nhân bằng đồng tiền lao động của người khác, các bị cáo phạm tội rất liều lĩnh, lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của những người bị hại nên chỉ trong thời gian ngắn các bị cáo đã 14 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của 14 người; tài sản các bị cáo chiếm đoạt có giá trị 306.971.115 đồng, đây là tình tiết định khung được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự. Các bị cáo phạm tội có tổ chức có phân công vai trò cụ thể cho nhau; các bị cáo phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, các bị cáo đều lấy các lần phạm tội là nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính và các bị cáo phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm a, b, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. [4] Xét hành vi phạm tội, vai trò và nhân thân của từng bị cáo thì thấy:

Đối với Hồ Văn C, là bị cáo có vai trò chính trong vụ án, bị cáo là người khởi xướng và rủ rê bị cáo Hồ Văn C trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bản thân bị cáo đã có 01 tiền án; ngày 18/8/2017 bị Tòa án nhân dân TP. Đà Nẵng xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tuy nhiên bị cáo chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường dân sự. Mặc dù chưa được xóa án tích nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét cần xử phạt bị cáo C nghiêm minh, xét cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.

Song xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, sau khi vụ án xảy ra bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội xảy ra trước đó. Do đó, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Đối với Đặng Trần Văn T1 lẽ ra phải ngăn cản hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo C khi rủ bị cáo đi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo lại có vai trò giúp sức và là người trực tiếp điều khiển xe mô tô chở Hồ Văn C đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo nghiêm minh, xử cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời răn đe các đối tượng khác có hành vi tương tự.

Song xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, sau khi vụ án xảy ra bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội xảy ra trước đó, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường được một phần thiệt hại để khắc phục hậu quả, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo tại địa phương.

Tại phiên tòa hôm nay, vị Luật sư bào chữa cho bị cáo thống nhất về tội danh đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ múc hình phạt cho bị cáo. Xét luận cứ của vị luật sư phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng điểm b, r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một mức án thỏa đáng. Đối với yêu cầu không áp dụng các tình tiết phạm tội có tổ chức, phạm tồi có tính chất chuyên nghiệp và áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng múc án dưới khung hình phạt là chưa phù hợp và không có cở sở để chấp nhận.

Đối với Tạ Quang T8 có hành vi tiêu thụ tài sản là 03 xe mô tô mà Hồ Văn C và Đặng Trần Văn T1 trộm cắp ở các vụ thứ 3, 8, 13. Tuy nhiên, qua xác minh hiện nay T8 không có mặt tại địa phương, dồng thời hành vi này xảy ra trên địa bàn TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng đã có Công văn số 886 ngày 14/11/2022 chuyển nguồn tin tội phạm cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam để giải quyết theo thẩm quyền.

Đối với biển kiểm soát 73H1-352.20, C và T1 khai nhận trộm cắp tại phòng trọ (không nhớ địa chỉ trên địa bàn phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng) sử dụng để gắn vào xe mô tô hiệu Yamaha Sirius trộm cắp ở vụ thứ 1, qua xác minh thì biển kiểm soát 73H1-352.20 là của xe mô tô hiệu Honda Winner của ông Phạm Ngọc Lâm, ông Lâm đã bán xe này cho tiệm cầm đồ ở quận Liên Chiểu (không nhớ rõ tên, địa chỉ). Đồng thời, xác minh tại phường Mỹ An không thụ lý trường hợp nào báo mất biển kiểm soát 73H1-352.20. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng sẽ tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau là phù hợp.

Đối với những người mua tài sản do C và T1 trộm cắp được ở vụ thứ 2, 6 và 10 hiện chưa xác minh được nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng sẽ tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

Đối với ông Nguyễn Minh T12, quản lý quán karaoke Paraside đã có hành vi nhận giữ xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen bạc biển kiểm soát 43X2-5344 (trộm ở vụ thứ 4) do C và T1 thiếu tiền trả cho quán. T2 nhiên, ông T12 không biết đây là tài sản do C và T1 trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng không xử lý có căn cứ.

Đối với ông Nguyễn T14 Q và ông Võ Trung N đã có hành vi mua xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen (trộm cắp ở vụ thứ 5) nhưng gắn biển kiểm soát 92G1-044.73. Ông Q và ông N khai khi mua xe đã thấy xe gắn biển kiểm soát 92G1-044.73 và không biết đây là tài sản do C và T1 trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngũ hành Sơn, TP. Đà Nẵng không xử lý là có căn cứ. Tuy nhiên, C và T1 khai nhận khi bán xe cho ông Q thì giữ N biển kiểm soát 73H1-434.70. Qua xác minh, biển kiểm soát 92G1-044.73 là của xe hiệu Successful C100 của ông Võ Văn Nhân, ông Nhân đã bán xe này cho một người (không nhớ rõ tên, địa chỉ và hiện ông Nhân không còn quản lý, sử dụng đối với chiếc xe này). Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng sẽ tiếp tục lưu giữ để điều tra xác minh xử lý sau.

Đối với ông Đặng Minh V đã 02 lần có hành vi nhận cầm cố đối với xe mô tô hiệu Honda SH, màu trắng biển kiểm soát 43C1-211.12 (trộm ở vụ thứ 7) và xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh biển klieemr soát 43G1-290.33 (trộm ở vụ thứ 11). Tuy nhiên, ông V không biết đây là tài sản do C và T1 trộm cắp mà có. Sau khi nhận cầm xe lần thứ 2 thì ông V nghi ngờ là tài sản do phạm pháp nên đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Hội An để nhờ xác minh đồng thời giao nộp lại 02 xe này cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Hội An để giải quyết. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng không xử lý đối với ông V là có căn cứ.

Đối với ông Dương Ngọc T14 đã có hành vi cầm cố xe mô tô hiệu Honda Vision, màu trắng biển kiểm soát 36M5-021.83 (trộm ở vụ 12). Tuy nhiên, khi cầm cố xe có đầy đủ giấy tờ và ông T12 không biết đây là tài sản do C và T1 trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng không xử lý là có căn cứ. [5] Xét về trách nhiệm dân sự: Các bị hại gồm; ông Hồ Thăng G; ông Nguyễn Văn T2; ông Lê Thanh T4; ông Nguyễn Quốc H10; ông Nguyễn Văn D; bà Lê Trần Ngân Tr và bà Lê Thị Kim L6 đã nhận lại xe và không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự nên không đề cập đến.

Các bị hại gồm; ông Võ Hữu H2 yêu cầu bồi thường số tiền 7.800.000 đồng; ông Nguyễn Q yêu cầu bồi thường số tiền 10.000.000 đồng; ông Huỳnh Tấn L2 yêu cầu bồi thường số tiền 24.000.000 đồng; ông Đỗ Văn Đ yêu cầu bồi thường số tiền 30.000.000 đồng; ông Nguyễn Ngọc T5 yêu cầu bồi thường số tiền 10.000.000 đồng; ông Nguyễn Văn Lý H4 yêu cầu bồi thường số tiền 47.000.000 dồng; ông Lê Bảo L4 yêu cầu bồi thường số tiền 14.000.000 đồng. Các bị cáo đều thống nhất bồi thường cho những người bị hại nên xét cần buộc các bị cáo Hồ Văn C và Đặng Trần Văn T1 liên đới bồi thường cho các bị hại là thỏa đáng.

Những người có quyền lợi, và nghĩa vụ liên quan yêu cầu bồi thường dân sự như sau: Ông Nguyễn Minh T12 yêu cầu bồi thường số tiền 1.200.000 đồng; ông Võ Trung N yêu cầu bồi thường số tiền 3.000.000 đồng; ông Đặng Minh V yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000 đồng; ông Dương Ngọc T14 yêu cầu bồi thường số tiền 10.000.000 đồng. Xét cần buộc các bị cáo Hồ Văn C và Đặng Trần Văn T1 liên đới bồi thường cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp. [6] Xét về vật chứng: Ngày 08/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Đà Nẵng ra Quyết định xử lý vật chứng số 29/QĐ-HS trả các xe mô tô tạm giữ cho các chủ sở hữu là có căn cứ nên không đề cập đến.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh dương của Hồ Văn C do liên quan đến hành vi phạm tội. Xét thấy cần tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 CMND mang tên Hồ Văn C do không liên quan đến hành vi phạm tội. Xét cần trả lại cho Hồ Văn C.

Đối với biển kiểm soát 37E1-621.66 của xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu đen của thuộc sở hữu của Nguyễn Văn Lý H4, do ông H4 không có nhu cầu nhận lại biển kiểm soát này. Xét thấy cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 06 đĩa DVD ghi nhận diễn biến H1nh vi trộm cắp của Hồ Văn C và Đặng Trần Văn T1 là chứng cứ của vụ án, hiện đAg lưu theo hồ sơ vụ án nên không đề cập đến. [7] Hội Đ xét xử xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tại phiên tòa về căn cứ các điều luật áp dụng cũng như đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 173; điểm a, b, g, h khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hồ Văn C.

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 173; điểm a, b, g khoản 1 Điều 52; điểm b, r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Trần Văn T1.

T2ên bố: Các bị cáo Hồ Văn C và Đặng Trần Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Hồ Văn C 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp H1nh hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 24/5/2022.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Trần Văn T1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp H1nh hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 24/5/2022.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Điều 589 Bộ luật dân sự.

Buộc các bị cáo Hồ Văn C và Đặng Trần Văn T1 phải liên đới bồi thường cho những người bị hại là; ông Võ Hữu H2 số tiền 7.800.000 đồng; ông Nguyễn Q số tiền 10.000.000 dồng; ông Huỳnh Tấn L2 số tiền 24.000.000 đồng; ông Đỗ Văn Đ số tiền 30.000.000 đồng; ông Nguyễn Ngọc T5 số tiền 10.000.000 Đ; ông Nguyễn Văn Lý H4 số tiền 47.000.000 đồng; ông Lê Bảo L4 số tiền 14.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền là: 142.800.000 đồng; chia phần cụ thể; Hồ Văn C phải chịu 71.400.000 đồng; Đặng Trần Văn T1 pH3 chịu 71.400.000 đồng.

Buộc các bị cáo Hồ Văn C và Đặng Trần Văn T1 phải liên đới bồi thường cho ông những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là; ông Nguyễn Minh T12 số tiền 1.200.000 đồng; ông Võ Trung N số tiền 3.000.000 đồng; ông Đặng Minh V số tiền 20.000.000 đồng; ông Dương Ngọc T14 số tiền 10.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền là: 34.200.000 đồng; chia phần cụ thể; Hồ Văn C phải chịu 17.100.000 đồng; Đặng Trần Văn T1 phải chịu 17.100.000 đồng.

(Đặng Trần Văn T1 đã nộp 5.000.000 đồng theo biên lai 0001587 ngày 11/01/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng) Đặng Trần Văn T1 còn phải nộp 83.500.000 đồng) .

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ đối với các khoản tiền phải trả, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh dương, đã được niêm phong.

Tuyên trả cho Đặng Trần Văn T1: 01 CMND mang tên Đặng Trần Văn T1.

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 biển kiểm soát 37E1-621.66.

Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự Quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/12/2022.

Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Hồ Văn C phải chịu 4.425.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, bị cáo Đặng Trần Văn T1 phải chịu 4.175.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 11/01/2023.

Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ