- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Ngọc Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự -Tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HS-ST Ngày: 14 -02- 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ- TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trình
BàTrần Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dự - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thùy Khánh Linh- Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, TP.Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 94/2022/TLST- HS ngày 27 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Phan Ngọc Tr;sinh ngày 28 tháng 11 năm 2000; tại TP Đà Nẵng;
Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn P, xã H, huyện Hòa Vang, Tp Đà Nẵng;
Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12.
Con ông Phan Ngọc H (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (sinh năm 1961); Gia đình bị cáo có 03 người con, bị cáo là con út.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo hiện đang tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa
*Người bị hại: Anh Nguyễn Văn Ph, sinh năm: 1986 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 22 đường T, phường H, quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Chị Văn Thị Ánh T, sinh năm: 1999(vắng mặt)
Địa chỉ: Số 293/1 đường H, phường V, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng.
2/ Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1992(vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng.
3/ Chị Nguyễn Thị O, sinh năm: 1973 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng.
4/ Anh Nguyễn Viết Q1, sinh năm: 1976 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 61, phường H, quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 31/7/2022, Phan Ngọc Tr điều khiển xe mô tô hiệu Honda Cub 70/81, màu xanh, BKS: 43K2-7328 đến nhà của anh Nguyễn Văn Ph (Sinh năm: 1984) tại số 22 đường T, phường H, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng để rủ anh Ph đi uống cà phê. Khi đến nơi, Tr thấy nhà anh Ph không đóng cửa, trong nhà chỉ có một mình anh Ph đang ngủ, trên bàn trang điểm cạnh giường ngủ có để một túi xách màu đen nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Tr lén lút lấy túi xách da màu đen bên trong có 01 mặt dây chuyền hình tượng phật bằng gỗ, bọc kim loại màu vàng; 01 một mặt dây chuyền hình nanh thú, bọc kim loại vàng; 01 nhẫn kim loại màu vàng; 01 đồng hồ cơ hiệu SR, mặt màu trắng-vàng, dây đeo bằng da màu nâu; 01 bật lửa khò làm bằng kim loại, màu vàng; 01 bật lửa hình hộp chữ nhật bằng kim loại, màu vàng đỏ và một số giấy tờ cá nhân mang tên Nguyễn Văn Ph. Tr quan sát xung quanh thấy 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng của anh Ph để trên bàn cạnh cửa phòng ngủ nên lấy máy điện thoại này bỏ vào túi quần rồi tẩu thoát.
Số tài sản trộm cắp được, Tr mang đến cửa hàng vàng tại khu vực chợ Cồn (không xác định địa chỉ cụ thể) gỡ phần kim loại vàng bọc ngoài của 02 mặt dây chuyền hình tượng phật và hình nanh thú bán cùng 01 nhẫn kim loại màu vàng lấy 6.000.000 đồng (mặt dây chuyền hình tượng Phật và hình nanh thú còn lại Tr đã làm mất không thu hồi được). Máy điện thoại Iphone X, Tr mang đến cửa hàng điện thoại QT Store (tại thôn T, xã H, huyện Hòa Vang) để sửa màn hình với giá 1.500.000 đồng, sau đó mang sang cửa hàng điện thoại Quang Nguyễn (bên cạnh cửa hàng QT Store) bán cho anh Nguyễn Văn Q (Sinh năm: 1992; trú tại: Thôn T, xã H, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng) với giá 2.500.000 đồng, sau đó anh Q đã bán lại máy điện thoại này cho người khác (không rõ nhân thân lai lịch) nên không thu hồi được. Số tiền 7.000.000 đồng có được từ việc bán tài sản trộm cắp mà có Tr đã tiêu xài hết 5.831.000 đồng. [BL: 13-15; 26-27; 29-39; 57-72]
* Tang vật tạm giữ: [BL: 50]
- 01 đồng hồ đeo tay, hiệu SR, có dây đeo bằng da, màu nâu, mặt bằng kim loại;
- 01 bật lửa dạng hình hộp chữ nhật màu vàng đỏ;
- 01 bật lửa dạng khò màu vàng, bằng kim loại;
- 01 túi chất liệu da, màu đen;
- Số tiền 1.169.000 đồng tiền Việt Nam;
*Tại Kết luận định giá tài sản số 48/KL-ĐGTS ngày 04/8/2022 và số 70/KL-HĐĐGTS ngày 21/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS – UBND quận Cẩm Lệ [BL: 18-21] kết luận:
01 điện thoại di động hiệu Iphone X, màu trắng và 01 đồng hồ cơ nhãn hiệu SR, mặt màu trắng, viền màu vàng, dây đeo bằng da màu nâu đỏ có tổng giá trị là 4.777.500 đồng; 01 túi da màu đen, nhãn hiệu Dinozi, 01 bật lửa khò, bằng kim loại màu vàng và bật lửa hình hộp chữ nhật, bằng kim loại màu vàng-đỏ, nhãn hiệu ST Dupont 20u có tổng giá trị là 3.977.000 đồng.
Đối với các tài sản gồm: nhẫn kim loại màu vàng, mặt dây chuyền hình nanh thú, mặt dây chuyền hình tượng phật do không thu hồi được, không có thông số kỹ thuật, số liệu liên quan đến tài sản nên không có cơ sở để định giá. Tuy nhiên, quá trình giải quyết, bị hại anh Ph thống nhất giá trị của nhẫn kim loại màu vàng, mặt dây chuyền hình nanh thú và mặt dây chuyền hình tượng phật bọc kim loại vàng là 6.000.000 đồng và số tiền này cũng bằng với số tiền 6.000.000 đồng mà bị cáo Tr đã khai nhận khi bán tài sản bị cáo trộm cắp được của anh Ph.
Như vậy, tổng giá trị tài sản Tr chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn Ph được xác định là 14.754.500 đồng.
Quá trình điều tra bị cáo Phan Ngọc Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Với nội dung trên tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKSCL, ngày 26/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Phan Ngọc Tr về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phan Ngọc Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: tình tiết người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và người bị hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm b,i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 173; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Ngọc Tr mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù.Thời gian thụ hình tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự; vật chứng và trách nhiệm của những người liên quan: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về phần xử lý đồ vật, tài sản tạm giữ:
Đối với 01 đồng hồ cơ hiệu SR, mặt màu trắng, viền màu vàng, dây đeo bằng da màu nâu đỏ; 01 bật lửa khò bằng kim loại, màu vàng; 01 bật lửa hình hộp chữ nhật bằng kim loại, màu vàng - đỏ và 01 túi da màu đen nhãn hiệu Dinozi, sau khi tạm giữ phục vụ điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cẩm Lệ đã trả lại cho chủ sở hữu anh Nguyễn Văn Ph là phù hợp.
Đối với số tiền 1.169.000 đồng thu giữ của bị cáo Phan Ngọc Tr là tài sản có được do phạm tội mà có nên đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- Về dân sự:
Hiện nay anh Ph đã nhận lại các tài sản của mình gồm: 01 đồng hồ cơ nhãn hiệu SR, mặt màu trắng, viền màu vàng, dây đeo bằng da màu nâu đỏ có giá trị là 977.500đ; 01 túi da màu đen, nhãn hiệu Dinozi, 01 bật lửa khò, bằng kim loại màu vàng và bật lửa hình hộp chữ nhật, bằng kim loại màu vàng-đỏ, nhãn hiệu ST Dupont 20u có tổng giá trị là 3.977.000 đồng.
Đối với các tài sản gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone X, màu trắng có giá trị là 3.800.000 đồng; nhẫn kim loại màu vàng, mặt dây chuyền hình nanh thú, mặt dây chuyền hình tượng phật do không thu hồi được, không có thông số kỹ thuật, số liệu liên quan đến tài sản nên không có cơ sở để định giá. Quá trình giải quyết, bị hại thống nhất giá trị của nhẫn kim loại màu vàng, mặt dây chuyền hình nanh thú và mặt dây chuyền hình tượng phật bọc kim loại vàng là 6.000.000 đồng bằng với số tiền mà bị cáo Tr đã bán các tài sản này. Anh Ph yêu cầu Phan Ngọc Tr phải bồi thường số tiền đối với số tài sản không thu hồi được là 14.000.000 đồng, đến nay bị cáo Tr đã bồi thường xong, người bị hại là anh Nguyễn Văn Ph không có yêu cầu gì về vấn đề dân sự nên không đề cập đến.
-Về trách nhiệm của những người liên quan:
Đối với người mua các tài sản gồm nhẫn kim loại màu vàng, mặt dây chuyền hình nanh thú, mặt dây chuyền hình tượng phật Tr khai nhận không nhớ địa chỉ bán nên không đề cập xử lý trách nhiệm liên quan được.
Đối với xe mô tô hiệu Honda Cub 70/81 màu xanh, BKS: 43K2-7328 qua điều tra xác định do chị Nguyễn Thị O (Sinh năm: 1973; trú tại: Thôn P, xã H, huyện Hòa Vang, Tp Đà Nẵng) quản lý, sử dụng. Ngày 31/7/2022, chị O cho Tr mượn để đi lại và không biết Tr điều khiển xe mô tô trên đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cẩm Lệ không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với anh Nguyễn Văn Q mua điện thoại di động hiệu Iphone X do Tr trộm cắp mà có, tuy nhiên do máy điện thoại không có khóa màn hình, anh Q không biết đây là tài sản trộm cắp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cẩm Lệ không đề cập xử lý là có căn cứ.
Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Những người tham gia phiên tòa không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa người bị hại anh Nguyễn Văn Ph; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Văn Thị Ánh T; anh Nguyễn Văn Q; chị Nguyễn Thị O; anh Nguyễn Viết Q1 đã được Tòa án triệu tập nhưng đều vắng mặt không có lý do và đã có lời khai của anh Ph, chị T, anh Q, chị O, anh Q1 trong hồ sơ vụ án. Do đó, sự vắng mặt của những người nêu trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
Tại phiên tòa bị cáo Phan Ngọc Tr khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Vào ngày 31/7/2022, tại số nhà 22 đường T, phường H, quận Cẩm Lệ, Tp Đà Nẵng Phan Ngọc Tr đã lén lút trộm cắp của anh Nguyễn Văn Ph nhiều tài sản với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 14.754.500 đồng.
Hành vi trên của bị cáo Phan Ngọc Tr đã phạm vào tội “ Trộm cắp tài sản ” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 02/CT-VKSCL ngày 26/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo Phan Ngọc Tr thì thấy:
Bị cáo Phan Ngọc Tr là một thanh niên trẻ, có sức khỏe, lẽ ra bị cáo phải lo lao động, tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội, nhưng bị cáo coi thường pháp luật, chỉ muốn có tiền nhanh chóng để thỏa mãn mục đích cá nhân bằng đồng tiền lao động của người khác, bị cáo Phan Ngọc Tr đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của người bị hại để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; bị cáo đã lấy tài sản có giá trị được xác định là 14.754.500 đồng của anh Nguyễn Văn Ph.
Hành vi của bị cáo Phan Ngọc Tr đã xâm hại quyền sở hữu của người khác về tài sản được pháp luật bảo vệ, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những gây thiệt hại về tài sản cho người bị hại mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh ở địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo nghiêm minh, xử cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời răn đe các đối tượng khác có hành vi tương tự.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của bị cáo:
Bị cáo Phan Ngọc Tr thực hiện các hành vi trộm cắp tài sản của người khác, tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo Phan Ngọc Tr đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả và người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. HĐXX nghĩ nên áp dụng điểm b,i,s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình.
Xét về trách nhiệm dân sự:
Đối với những tài sản thu hồi được gồm: 01 đồng hồ cơ nhãn hiệu SR, mặt màu trắng, viền màu vàng, dây đeo bằng da màu nâu đỏ có giá trị là 977.500đ; 01 túi da màu đen, nhãn hiệu Dinozi, 01 bật lửa khò, bằng kim loại màu vàng và bật lửa hình hộp chữ nhật, bằng kim loại màu vàng-đỏ, nhãn hiệu ST Dupont 20u có tổng giá trị là 3.977.000 đồng đã được trả lại cho anh Nguyễn Văn Ph nên HĐXX không đề cập đến.
Đối với các tài sản gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone X, màu trắng có giá trị là 3.800.000 đồng; nhẫn kim loại màu vàng, mặt dây chuyền hình nanh thú, mặt dây chuyền hình tượng phật do không thu hồi được, không có thông số kỹ thuật, số liệu liên quan đến tài sản nên không có cơ sở để định giá. Quá trình giải quyết, bị hại thống nhất giá trị của nhẫn kim loại màu vàng, mặt dây chuyền hình nanh thú và mặt dây chuyền hình tượng phật bọc kim loại vàng là 6.000.000 đồng bằng với số tiền mà bị cáo Tr đã bán các tài sản này. Anh Ph yêu cầu Phan Ngọc Tr phải bồi thường số tiền đối với số tài sản không thu hồi được là 14.000.000 đồng, đến nay bị cáo Tr đã bồi thường xong số tiền 14.000.000đ cho anh Ph, người bị hại là anh Nguyễn Văn Ph không có yêu cầu gì về vấn đề dân sự nên HĐXX không đề cập đến vấn đề trách nhiệm dân sự.
Xét về vật chứng:
Đối với 01 đồng hồ cơ hiệu SR, mặt màu trắng, viền màu vàng, dây đeo bằng da màu nâu đỏ; 01 bật lửa khò bằng kim loại, màu vàng; 01 bật lửa hình hộp chữ nhật bằng kim loại, màu vàng - đỏ và 01 túi da màu đen nhãn hiệu Dinozi, sau khi tạm giữ phục vụ điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cẩm Lệ đã trả lại cho chủ sở hữu anh Nguyễn Văn Ph là phù hợp.
Đối với xe mô tô hiệu Honda Cub 70/81 màu xanh, BKS: 43K2-7328 đứng tên anh Nguyễn Viết Q1, qua điều tra xác định do chị Nguyễn Thị O (Sinh năm: 1973; trú tại: Thôn P, xã H, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng) quản lý, sử dụng. Ngày 31/7/2022, chị O cho Tr mượn để đi lại và không biết Tr điều khiển xe mô tô trên đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cẩm Lệ đã không thu giữ xe của chị O là phù hợp.
Đối với số tiền 1.169.000 đồng thu giữ của bị cáo Phan Ngọc Tr là tài sản có được do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng quản lý theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 02/02/2023 tại Chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và phát triển nông thôn quận Cẩm Lệ.
Về trách nhiệm của những người liên quan:
Đối với người mua các tài sản gồm nhẫn kim loại màu vàng, mặt dây chuyền hình nanh thú, mặt dây chuyền hình tượng phật Tr khai nhận không nhớ địa chỉ bán nên không đề cập xử lý trách nhiệm liên quan được.
Đối với xe mô tô hiệu Honda Cub 70/81 màu xanh, BKS: 43K2-7328 đứng tên anh Nguyễn Viết Q1, qua điều tra xác định do chị Nguyễn Thị O (Sinh năm: 1973; trú tại: Thôn P, xã H, huyện Hòa Vang, Tp Đà Nẵng) quản lý, sử dụng. Ngày 31/7/2022, chị O cho Tr mượn để đi lại và không biết Tr điều khiển xe mô tô trên đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cẩm Lệ không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với chị Văn Thị Ánh T nhận sửa điện thoại của bị cáo Tr, chị T không biết đây là tài sản do bị cáo Tr trộm cắp nên Công an quận Cẩm Lệ không đề cập xử lý là có cơ sở.
Đối với anh Nguyễn Văn Q mua điện thoại di động hiệu Iphone X do Tr trộm cắp mà có, tuy nhiên do máy điện thoại không có khóa màn hình, anh Q không biết đây là tài sản trộm cắp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cẩm Lệ không đề cập xử lý là có cơ sở.
Hội đồng xét xử thấy lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tại phiên tòa về căn cứ các điều luật áp dụng cũng như đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Phan Ngọc Tr là có cơ sở, tuy nhiên mức hình phạt trên hơi nghiêm khắc đối với bị cáo Tr nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình.
Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Phan Ngọc Tr phải chịu 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; Điểm b,i,s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Phan Ngọc Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Phan Ngọc Tr 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
-Tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước: số tiền 1.169.000 đồng thu giữ của bị cáo Phan Ngọc Tr là tài sản do phạm tội mà có.
Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng quản lý theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 02/02/2023 tại Chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và phát triển nông thôn quận Cẩm Lệ.
Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phan Ngọc Tr phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo Phan Ngọc Tr biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 14/02/2023.
Riêng người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND quận Cẩm Lệ; - VKSND thành phố Đà Nẵng; - Công an quận Cẩm Lệ; - Chi cục THA quận Cẩm Lệ; - Bị cáo; người bị hại; -Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Nga |