vanban.org

Bản án 04/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 16/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố : Bị cáo Lê Minh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: bị cáo Lê Minh V 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 19/10/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "V - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố : Bị cáo Lê Minh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN VŨNG LIÊM
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HS-ST
Ngày: 18/01/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thanh Tòng.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/. Ông Huỳnh Văn Hồng

2/. Bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Hiếu – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Thành Vũ – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2022. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 413/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo Lê Minh V, sinh năm 1976 tại tỉnh Vĩnh Long; giới tính: Nam

Nơi cư trú: H, xã T, huyện L, tỉnh VL;

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch Việt Nam;

Tôn giáo: Không

Trình độ học vấn: không biết chữ

Nghề nghiệp: Đánh bắt thủy sản

Họ và tên cha: Không xác định, mẹ bà Lê Thị L, sinh năm 1951

Bị cáo có vợ tên Ngô Thị Hồng T, sinh năm 1990.

Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2021;

Anh chị em ruột: Có 03 người: lớn nhất sinh năm 1975, nhỏ nhất sinh năm

1983.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không

Về nhân thân: Bị cáo có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” đã được xóa án tích, cụ thể như sau:

Ngày 06/02/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”.

Ngày 23/11/2010 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh V xử phạt 02 năm về tội “Trộm cắp tài sản”.

Ngày 30/9/2019 bị Tòa án nhân dân huyện L xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Ngày 09/10/2022 thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản của anh Trương Văn T

Ngày 19/10/2022 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vũng Liêm khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam từ ngày 19/10/2022 đến nay.

Bị hại: Anh Trương Văn T, sinh năm 1975 (có mặt).

Trú tại ấp Quang Đức, xã Trung Chánh, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bị cáo Lê Minh V làm nghề đánh bắt thủy sản ở xung quanh khu vực sông Vũng Liêm gần nơi đang sinh sống kiếm tiền nuôi sống gia đình. Khoảng 1 giờ sáng ngày 09/10/2022, bị cáo V điều khiển chiếc xuồng bằng nhựa composite màu xanh dương – trắng có gắn máy đuôi tôm của mình đi đến khu vực sông Vũng Liêm thuộc địa bàn xã C, xã H, huyện L, mục đích xem có ai sử dụng kích điện hoặc thuốc cá để đánh bắt cá thì trình báo công an bắt những người này với lý do họ dùng phương pháp tận diệt thủy sản nên gần đây bị cáo đặt lợp lưới ( 12 cửa ngục ) không dính nhiều cá. Khi đi đến khu vực ấp Đ, xã C thì bị cáo phát hiện chiếc xuồng máy của anh Trương Văn T, sinh năm 1975 trú tại ấp Đ, xã C, huyện L, tỉnh VL đang neo đậu trong trại cặp bờ sông L, không người trông giữ nên nảy sinh ý định lấy trộm. Bị cáo chèo xuồng của mình đậu cặp xuồng máy của anh T, đến mũi xuồng máy của anh T thì tháo dây khỏi cọc tre, đầy xuồng của anh T ra khỏi bến và cột dây mũi xuồng của anh T vào đuôi xuồng của bị cáo. Sau đó bị cáo bước về xuồng của mình chèo xuồng của mình kéo theo xuồng của anh T di chuyển theo hướng bên kia sông L rồi nổ máy điều khiển xuồng về bến sông trước nhà bị cáo thuộc ấp H, xã T, huyện L, tỉnh VL. Sau đó bị cáo V mang bình ắc quy loại 150 AMPE trên chiếc xuồng của anh T đem lên cất giấu trên chiếc ghe bằng gỗ của bị cáo đang đậu gần đó, tiếp đến bị cáo dùng cờ lê và khóa để tháo động cơ máy xăng hiệu Vanguard 14Hp V- Twin rồi đem cất giấu trên chiếc ghe khác của bị cáo thường dùng trong sinh hoạt hằng ngày đậu gần đó. Sau khi cất giấu các món đồ trên xong thì bị cáo nhấn chìm chiếc xuồng của anh T xuống sông để không ai phát hiện.

Sau khi phát hiện tài sản bị mất, anh T đã tiến hành tìm kiếm, khi phát hiện chiếc xuồng tại khu vực đậu ghe của bị cáo, anh T đã tiến hành báo Công an xã Trung Thành Tây, sau đó thu hồi được toàn bộ tang vật của vụ án.

Tại kết luận số 49/KL-HĐĐGTS ngày 13/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L xác định: 01 chiếc xuồng bằng nhựa composite màu xanh dương có giá trị thành tiền là 6.500.000đ; 01 động cơ máy xăng hiệu Vanguard 14Hp V- Twin có giá trị thành tiền là 4.410.000đ; 01 bình ắc quy loại 150 ampe có giá trị thành tiền là 1.500.000đ. Tổng giá trị tài sản bị cáo V trộm cắp được của anh T là 12.410.000đ.

Tại cáo trạng số 52/CT-VKS.HVL ngày 24/11/2022 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện L truy tố bị cáo Lê Minh V tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xử lý như sau:

Tuyên bố bị cáo Lê Minh V phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ Luật tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Minh V mức án tù từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 19/10/2022.

Miễn chấp hành hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Xử lý vật chứng: không có

Về trách nhiệm dân sự: Không có.

Bị cáo V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Người bị hại Trương Văn T đã nhận lại toàn bộ tài sản xong, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản nào khác, về trách nhiệm hình sự thì yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[ 1 ] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng xuất trình tại tòa phù hợp quy định của pháp luật không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp quy định của pháp luật.

[ 2 ] Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Minh V là phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận: hành vi lợi dụng sự sơ hở, thiếu cảnh giác trong bảo vệ tài sản của bị hại. Bị cáo đã thực hiện hành vi lấy trộm xuồng máy, bình ắc quy của bị hại. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã trộm cắp là 12.410.000đ. Hành vi của bị cáo V đã có đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

[ 3 ] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, bị cáo đã thực hiện hành vi xâm phạm tài sản của người khác là bất khả xâm phạm, mọi hành vi xâm phạm tài sản của người khác đều phải bị pháp luật trừng trị thích đáng.

[ 4 ] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo chiếm đoạt tài sản đối với người bị hại là có giá trị, có ảnh hưởng trực tiếp đến việc mưu sinh hằng ngày của người bị hại. Hành vi của bị cáo gây tâm lý hoang mang trong đời sống xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa bàn xảy ra vụ trộm, gây bất an cho người dân, dư luận bức xúc đòi hỏi pháp luật trừng trị kịp thời thích đáng với hành vi từng bị cáo gây ra. Xét về nhân thân cũng như mức độ, tính chất hành vi của bị cáo V cần phải có thời gian cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, đủ thời gian để các bị cáo cải tạo, trở thành người hữu ích cho xã hội sau khi chấp hành án xong và cũng nhằm răn đe chung cho toàn xã hội.

[ 5 ] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt: Bị cáo là lao động chính trong gia đình, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, đây được xem là tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[ 6 ] Về xử lý vật chứng: Không có.

[ 7 ] Về trách nhiệm dân sự: Không có.

[ 8 ] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000đ

Lời đề nghị của kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào 173 của Bộ luật Hình sự .

Tuyên bố : Bị cáo Lê Minh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Lê Minh V 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 19/10/2022.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Lê Minh V.

2- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

3- Về xử lý vật chứng: Không có.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTV QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Minh V phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ