- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc T phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HS-ST. Ngày: 06-01-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Quang Hoạch
Ông Tạ Văn Đài.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo là thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Ông Phan Hoàng Quân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 219/2022/HSST ngày 02 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 224/2022/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Phạm Ngọc T, sinh năm 1990 tại Long An; nơi cư trú: ấp B, xã M, huyện Ttỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn G và bà Trần Thị V; bị cáo có vợ và 01 con; tiền án: Ngày 08/07/2022 bị Tòa án nhân dân tỉnh Long An xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 136/2022/HS-PT (bị cáo chưa chấp hành); tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị cáo bị giam giữ từ ngày 16/08/2022. (Có mặt)
- Bị hại: Trung tâm viễn thông T, địa chỉ: 173A Nguyễn Huệ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
- Người làm chứng: Ông Trần Văn P, sinh năm 1972, địa chỉ: Khu phố 4, thị trấn Tr, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Ngọc T đã có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Vào ngày 16/08/2022, do cần tiền tiêu xài nên T gọi điện rủ Nguyễn Chí T (tên thường gọi là Dũng) đi cắt trộm dây cáp đồng để bán lấy tiền tiêu xài thì T đồng ý. Khoảng 17 giờ cùng ngày, T điều khiển xe môtô nhãn hiệu Dream, biển số 62T1-072.04 đến phường Tân Thuận Đông, Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh để chở T đi đến khu vực đường song hành với đường Quốc lộ 1A thuộc khu dân cư Khu công nghiệp Bàu Xéo, huyện Trảng Bom. Lúc này, cả hai ra quán nước ngồi đợi. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T và T đi đến mở 02 nắp hầm chứa cáp của Trung tâm Viễn thông T, cắt trộm 90 mét dây cáp đồng (loại 400x2x0,4mm), trong lúc cả hai đang kéo cáp đồng ra khu vực Công viên cây xanh (cách vị trí cắt cáp khoảng 20 mét) thì bị lực lượng Công an thị trấn Trảng Bom tuần tra, phát hiện, bắt quả tang T, còn T chạy thoát.
Tại kết luận định giá ngày 26/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Trảng Bom đã kết luận: 90 mét dây cáp viễn thông, loại 400x2x0,4mm (sử dụng từ năm 2005 đến nay) trị giá: 22.869.000 đồng (Hai mươi hai triệu tám trăm sáu mươi chín nghìn đồng).
Vật chứng thu giữ:
- 01 dây cáp đồng dài 90 mét, loại 400x2x0,4mm (đã cắt thành 03 đoạn);
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển số 62T1-072.04, số máy: VMESE1-245362, số khung: RLGSB10AD5H2-245362;
- 01 kéo cắt màu xanh dài 22,5cm;
- 01 xà beng dài khoảng 45cm;
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung A12 màu đen (số sim 0906421507);
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen (không chứa sim).
Về trách nhiệm dân sự: Trung tâm viễn thông T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường về dân sự.
Tại Cáo trạng số: 229/CT-VKS-TB ngày 30 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 kéo cắt màu xanh dài 22,5cm và 01 xà beng dài khoảng 45cm; đề nghị tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung A12 màu đen (số sim 0906421507); Đối với xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển số 62T1-072.04, số máy: VMESE1- 245362, số khung: RLGSB10AD5H2-245362 chưa làm việc được với chủ sở hữu nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom tiếp tục xác minh, xử lý sau; buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong cáo trạng, nội dung phân tích, luận tội của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa và không có ý kiến bào chữa gì thêm. Đồng thời, trong lời nói sau cùng, bị cáo cũng đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng và làm người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác cung cấp là đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì về tính hợp pháp của các chứng cứ nên những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận: Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 16/8/2022, tại khu vực đường song hành với Quốc lộc 1A thuộc khu dân cư Khu công nghiệp Bàu Xéo, huyện Trảng Bom, Phạm Ngọc T đã có hành vi lén lút cắt trộm 90 mét dây cáp đồng của Trung tâm Viễn thông Trảng Bom, trị giá 22.869.000 đồng để bán lấy tiền tiêu xài. Sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do muốn kiếm tiền bằng con đường bất chính để thỏa mãn nhu cầu tiêu xài của bản thân nên bị cáo cố ý hành động phạm tội, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đối với Nguyễn Chí T chạy thoát khi bắt quả tang và không có mặt tại nơi cư trú nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom chưa làm việc được nên chưa có căn cứ xử lý.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nên áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Trung tâm viễn thông Trảng Bom đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường về dân sự nên không xem xét.
Xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy 01 kéo cắt màu xanh dài 22,5cm và 01 xà beng dài khoảng 45cm.
Tịch sung, sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung A12 màu đen (số sim 0906421507).
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển số 62T1-072.04, số máy: VMESE1- 245362, số khung: RLGSB10AD5H2-245362, do chưa làm việc được với chủ sở hữu nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom, tiếp tục xác minh xử lý sau.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen (không chứa sim). Qua quá trình điều tra xác định Phạm Ngọc T không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã trả lại cho T là phù hợp với quy định pháp luật.
Đối với 01 dây cáp đồng dài 90 mét, loại 400x2x0,4mm (đã cắt thành 03 đoạn), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã trả lại cho Trung tâm viễn thông T là phù hợp với quy định pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về hành vi tố tụng, thẩm quyền tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Qua quá trình điều tra và truy tố, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T 02 (hai) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” của bản án số 136/2022/HS-PT của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (hai) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/08/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự: Trung tâm viễn thông T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường về dân sự nên không xem xét.
3. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Tịch thu, tiêu hủy 01 kéo cắt màu xanh dài 22,5cm và 01 xà beng dài khoảng 45cm. Tịch sung, sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung A12 màu đen (số sim 0906421507) (vật chứng này hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/12/2022).
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển số 62T1-072.04, số máy: VMESE1- 245362, số khung: RLGSB10AD5H2-245362 thì Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom tiếp tục xác minh, xử lý sau.
4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Bị cáo, bị hại; - VKSND huyện; - Công an huyện; - Chi cục THADS huyện; - UBND cấp xã nơi b/c cư trú; - Sở Tư pháp; - TAND tỉnh; - Lưu: hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Ngọc Nam |