- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Tăng Bá T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tăng Bá T phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Bản án số: 04/2023/HS-ST Ngày: 09-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Triều
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Đinh Thị Thanh Giang
2/ Ông Nguyễn Thanh Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Cái Chí Toàn – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Tăng Bá T, sinh năm 1989; tại tỉnh Hải Dương; ĐKTT: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Hải Dương; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 07/12; Con ông Tăng Bá D và bà Phan Thị T1; Bị cáo chưa có vợ và con.
- Tiền án: 04
+ Ngày 30/9/2011, bị Toà án nhân dân thành phố C, tỉnh Hải Dương xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 30/2011/HSST.
+ Ngày 27/12/2011, bị Toà án nhân dân thành phố C, tỉnh Hải Dương xử phạt 33 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 216/2011/HSST (Tổng hợp 18 tháng tù với Bản án số 30/2011/HSST ngày 30/9/2011).
+ Ngày 13/8/2015, bị Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Hải Dương xử phạt 30 tháng tù tại Bản án số 41/2015/HSST.
+ Ngày 31/12/2015, bị Toà án nhân dân huyện D, tỉnh Bến Tre xử phạt 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 43/2015/HSST (Tổng hợp 30 tháng tù với Bản án số 41/2015/HSST ngày 13/8/2015 của Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương).
- Nhân thân:
+ Ngày 26/8/2005, bị Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Hải Dương xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 25/2005/HSST.
+ Ngày 30/01/2007, bị Toà án nhân dân huyện E, tỉnh Hải Dương xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 02/2007/HSST.
+ Ngày 01/9/2010, bị Công an huyện D, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
+ Ngày 25/10/2011, bị Công an Thành phố F, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/11/2022 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
Phạm Kim N, sinh năm 2000 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp F, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Huỳnh Văn L, sinh năm 1982 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp K, xã N, huyện C, tỉnh Bến Tre.
+ Nguyễn Duy T1, sinh năm 1982 (Vắng mặt).
Địa chỉ: phường F, thành phố J, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 01 giờ 00, ngày 04 tháng 11 năm 2022, Tăng Bá T đi bộ lang thang trên địa bàn huyện C, tỉnh Bến Tre với mục đích tìm tài sản của người dân để lấy trộm. Khi đi đến nhà Phạm Kim N, ĐKTT: ấp F, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre, T nhìn thấy có đèn điện sáng và cửa sau mở nên T đi vào bên trong lấy trộm một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A12 màu đen; một điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10C màu đen xám và xe môtô nhãn hiệu HONDA loại xe Wave, màu xanh, biển kiểm soát 71K1-9887 có gắn sẵn chìa khóa. T điều khiển xe môtô 71K1-9887 chạy về thành phố K. Sáng cùng ngày, T đến Cửa hàng điện thoại di động thuộc ấp K, xã N, huyện C, tỉnh Bến Tre bán điện thoại Samsung A12 màu đen cho ông Huỳnh Văn L, ĐKTT: ấp K, xã N, huyện C, tỉnh Bến Tre được 1.300.000 đồng. Sau khi bán điện thoại, T điều khiển xe máy nêu trên đến thành phố K, tỉnh Bến Tre để ăn uống và tiêu sài cá nhân.
Đến sáng ngày 05/11/2022, T tiếp tục điều khiển xe 71K1-9887 đến Cửa hàng điện thoại di động Hồng Cẩm ở phường F, thành phố J, tỉnh Tiền Giang nhờ Nguyễn Duy T chạy lại chương trình chiếc điện thoại Redmi 10C để sử dụng. Sau đó, T tiếp tục điều khiển xe đi tìm chỗ để bán xe thì bị lực lượng Công an phát hiện nên mời T về làm việc.
Vật chứng tạm giữ: 01 xe môtô hai bánh nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, màu xanh, biển kiểm soát 71K1-9887, số máy C08E-0187698, số khung 8092Y-187760; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A12 SM-A125F/DS (Ram: 4GB, Rom: 128GB) màu đen, số IMEI 1 là 35352681827591, số IMEI 2 là 355147551827595; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10C Graphite Gray 4GB RAM, 128GB ROM, số IMEI 1 là 864763066476423, số IMEI 2 là 864763066476431 màu đen xám; tiền Việt Nam 712.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 1794/KL-HĐĐG ngày 06/11/2022 của Hội đồng định giá huyện Châu Thành kết luận: 01 xe môtô hai bánh nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave màu xanh, biển kiểm soát 71K1-9887 tại thời điểm định giá ngày 04/11/2022 có giá trị là 7.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A12 SM-A125F/DS (Ram: 4GB, Rom: 128GB) màu đen tại thời điểm định giá ngày 04/11/2022 có giá trị là 2.275.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10C Graphite Gray 4GB RAM, 128GB ROM màu đen xám, tại thời điểm định giá ngày 04/11/2022 có giá trị là 3.501.000 đồng; tổng giá trị tài sản là 12.776.000 đồng.
Cáo trạng số 05/CT-VKSCT ngày 13/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo Tăng Bá T về “Tội trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tăng Bá T phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Tăng Bá T từ 03 năm đến 04 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận bị hại Phạm Kim N đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 01 xe môtô hai bánh nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 71K1-9887; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A12 màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10C, màu đen xám và chị Ngân không yêu cầu gì khác.
Ghi nhận anh Huỳnh Văn L không yêu cầu bị cáo Tăng Bá T bồi thường số tiền anh L đã mua điện thoại Samsung A12 màu đen là 1.300.000 đồng.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 712.000 đồng.
Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã trả lại cho Phạm Kim N 01 xe môtô hai bánh nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 71K1-9887; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A12 màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10C, màu đen xám.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, đồng thời nói lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Bị cáo không có ý kiến. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy những người vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử và đã có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra nên tiếp tục xét xử là phù hợp quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị hại về đặc điểm tài sản và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Do muốn có tiền tiêu xài, khoảng 01 giờ 00 phút, ngày 04 tháng 11 năm 2022, tại ấp F, xã H, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, Tăng Bá T đã lấy trộm của chị Phạm Kim N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A12, màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10C, màu đen xám và 01 xe môtô hai bánh nhãn hiệu HONDA, màu xanh, biển kiểm soát 71K1-9887.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đã thành niên, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp vì mục đích vụ lợi cá nhân. Hành vi của bị cáo là hành vi cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác. Bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A12, màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10C, màu đen xám và 01 xe môtô hai bánh nhãn hiệu HONDA, màu xanh, biển kiểm soát 71K1-9887 của chị Phạm Kim N, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 12.776.000 đồng.
Bị cáo đã nhiều lần bị Toà án kết án về tội Trộm cắp tài sản mà chưa được xoá án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội mới do lỗi cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp định khung tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Tăng Bá T đã phạm “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện tội phạm, tạo sự bất bình, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm mọi người không an tâm trong lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như sau: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có cha là người có công với cách mạng là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã có nhiều tiền án về hành vi trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, bản tính xem thường pháp luật của bị cáo, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung nên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là phù hợp quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận bị hại Phạm Kim N đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 01 xe môtô hai bánh nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 71K1-9887; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A12 màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10C, màu đen xám và chị N không yêu cầu gì khác.
Ghi nhận anh Huỳnh Văn L không yêu cầu bị cáo Tăng Bá T bồi thường số tiền anh L đã mua điện thoại Samsung A12 màu đen là 1.300.000 đồng.
Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 712.000 đồng là tiền mà bị cáo Tăng Bá T đã bán tài sản trộm cắp còn lại sau khi đã tiêu xài cá nhân một phần và bị cáo cũng không có yêu cầu nhận lại số tiền này nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã trả lại cho Phạm Kim N 01 xe môtô hai bánh nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 71K1-9887; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A12 màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10C, màu đen xám.
Đối với hành vi của Huỳnh Văn L và Nguyễn Duy T không biết tài sản trên do Tăng Bá T lấy trộm mà có, nên hành vi của L và T không cấu thành tội phạm.
Về án phí:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Tăng Bá T phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
[1] Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Tăng Bá T 03 (Ba) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2022.
[2] Trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận bị hại Phạm Kim N đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 01 xe môtô hai bánh nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 71K1-9887; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A12 màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10C, màu đen xám và chị N không yêu cầu gì khác.
Ghi nhận anh Huỳnh Văn L không yêu cầu bị cáo Tăng Bá T bồi thường số tiền anh L đã mua điện thoại Samsung A12 màu đen là 1.300.000 đồng.
[3] Áp dụng vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 712.000 đồng.
Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã trả lại cho Phạm Kim N 01 xe môtô hai bánh nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 71K1-9887; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A12 màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10C, màu đen xám.
[4] Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Tăng Bá T phải chịu án phí là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
[5] Áp dụng Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Bến Tre (1b) - STP tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND huyện Châu Thành (1b); - Chi cục THADS huyện Châu Thành (1b); - Công an huyện (3b); - Bộ phận HS CA huyện (2b); - UBND xã Thanh Lang (1b); - Những người tham gia tố tụng (4b); - Lưu: HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Xuân Triều |