- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Hưng - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy (điều 272 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ”, thời gian thử thách 05 (năm) năm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 272 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HS-PT Ngày 15 - 02 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thanh S.
Các Thẩm phán: Ông Ma Hồng Thắng và bà Nguyễn Thanh Hương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Dũng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thuý Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 97/2022/TLPT-HS ngày 21 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Xuân H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2022/HS-ST ngày 11 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
* Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Xuân H (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 06/11/1992 tại Tuyên Quang;
Nơi cư trú: Thôn C, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Nguyễn Xuân V, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khởi nơi cư trú (có mặt).
* Người đại diện hợp pháp cho bị hại chị Triệu Thị Thu H (đã chết) và cháu Nguyễn Thị H (đã chết): Anh Nguyễn Quang H, sinh năm 1988. Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 23/3/2022, Nguyễn Xuân H, sinh năm 1992, trú tại Thôn C, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang khi đang ở nhà thì nhận được cuộc gọi từ ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1957, trú tại thôn S4, xã X, huyện Y (bác của H) với nội dung nhờ ra trông hộ thuyền máy để về ăn cơm (ông T có Giấy phép hoạt động bến khách ngang sông số 36/GP.PNS do Sở Giao thông vận tải tỉnh Tuyên Quang cấp ngày 01/02/2010), H đồng ý và đi ra bến đò thuộc Thôn C, xã X, huyện Y (H không có chứng chỉ lái thuyền theo quy định). Khoảng 05 phút sau khi đang trông thuyền H nghe thấy bến đò A bên kia sông có khách bấm còi muốn sang sông. Lúc này trời tối, mưa to, nước sông dâng cao, chảy xiết tầm nhìn bị hạn chế những H đã tự ý điều khiển thuyền máy mã số TQ-0804 đến bến đò A để chở khách qua sông (ông T không biết). H chở 05 người lên thuyền gồm: Chị Triệu Thị Thu H, sinh năm 1992, cháu Nguyễn Thị H, sinh năm 2016 (con gái chị H) cùng trú tại thôn Đ, xã X, huyện Y và 01 xe môtô biển số 22B2 - 790.30; Trần Quang Đ, sinh năm 1972; Đỗ Văn V, sinh năm 1981 và Hoàng Châu S, sinh năm 1993 cùng trú tại thôn Đ4, xã X, huyện Y và 01 xe môtô biển số 22B1-888.87 của anh Đ, 01 xe môtô không gắn biển số của S đi từ bến đò thôn A sang bến đò Thôn C. Sau khi mọi người lên thuyền, H không phổ biến nội quy an toàn, hướng dẫn hành khách vị trí ngồi và hướng dẫn sử dụng trang bị phòng hộ theo quy định. Khi đi được khoảng 2/3 chiều ngang sông thì thuyền không đi tiếp được do nước chảy xiết và đẩy thuyền xuôi dòng về hướng thành phố T dạt vào phía bờ Thôn C vướng vào bụi tre mọc vươn ra bờ sông khiến thuyền bị lật. H, V, S, Đ nhảy khỏi thuyền bám vào cành tre bơi được vào bờ, còn chị H và cháu H ngã xuống sông, thuyền máy và 03 xe mô tô bị chìm. Đến ngày 27/3/2022 và ngày 31/3/2022, lực lượng cứu hộ đã tìm kiếm và trục vớt được thi thể của chị Triệu Thị Thu H và cháu Nguyễn Thị H tại vị trí cách nơi xảy ra tai nạn khoảng 02 km cùng thuyền máy và 03 xe môtô. Tại biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 08 giờ 30 phút ngày 24/3/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y xác định: Hiện trường tại đoạn sông Gâm, bờ sông bên trái thuộc thôn S4 và Thôn C, xã X, huyện Y, bờ sông bên phải thuộc thôn A, xã X, huyện Y. Chiều khám nghiệm theo chiều dòng chảy của sông theo hướng Tây Nam. Khoảng cách hai bờ sông là 150m, dòng nước chảy mạnh và xiết, mực nước sông đã giảm từ 1-1,2m. Bờ sông trái làm mép chuẩn. Vật chuẩn là cột biển báo hiệu “chuyển hướng luồng” đặt bờ bên trái, vật chuẩn cách mép chuẩn 30m. Cách vật chuẩn 400m theo hướng khám nghiệm là vị trí lật thuyền. Tại đây có 01 búi tre mọc nghiêng ra mặt sông, từ mép chuẩn đến ngọn từ 5-7m, cành tre có nhiều cỏ rác. Tại vị trí này nước chảy xiết, mực nước sâu 2,5m. Tại biên bản khám phương tiện hồi 17 giờ 30 phút ngày 28/3/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y xác định: Thuyền máy số đăng ký TQ-0804 tại thanh cần phía dưới, cách đầu thanh cần 75cm có dấu vết móp, lõm, cong gập từ dưới lên trên, từ trong ra ngoài. Mặt sàn thuyền có nhiều bùn đất, có rác. Đầu lan can bên trái thuyền bị móp, cong vênh, vùng kích thước 360x70cm, ống dọc lan can bong mối hàn. Lan can bên phải bị móp méo, cong vênh, bám nhiều bùn đất, cỏ rác. Phần đuôi thuyền, mất toàn bộ phần mái che, chỉ còn khung kim loại. Phần khoang lái không gắn động cơ. Động cơ của thuyền là loại đầu nổ Diesel D15 gắn với phần khung kim loại, tay lái hình chữ U, dài 115cm, rộng 45cm, phần dàn lắp đuôi tôm chân vịt dài 3,6m, chân vịt bằng thép lắp 03 cánh quạt, trên bề mặt cánh quạt có nhiều vết xứt mẻ, cày xước. Động cơ dính nhiều bùn đất. Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 399 ngày 20/4/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Tuyên Quang kết luận: Nguyên nhân chết của Triệu Thị Thu H do ngạt nước. Tại kết luận giám định pháp y về tử thi số 414 ngày 20/4/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Tuyên Quang kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Thị H do ngạt nước.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2022/HS-ST ngày 11 tháng 11 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ”.
Căn cứ: Điểm a, đ khoản 2 Điều 272; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngày 21/11/2022, Toà án cấp sơ thẩm nhận được đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân H với nội dung xin hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Người đại diện hợp pháp cho bị hại anh Nguyễn Quang H trình bày: Bị cáo điều khiển thuyền máy chở khách sang sông dẫn đến lật thuyền làm vợ con anh tử vong do đuối nước là nằm ngoài ý muốn của cả hai phía, sau khi sự việc xảy ra gia đình bị cáo đã rất tích cực tìm kiếm, động viên, chia sẻ và bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho gia đình anh đầy đủ. Xét hành vi của bị cáo là không cố ý, tuổi đời còn trẻ, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình và mong muốn được sửa chữa lỗi lầm, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội được cải tạo tại địa phương.
Kết thúc phần xét hỏi đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Đảm bảo đúng pháp luật; đơn kháng cáo của bị cáo là hợp lệ trong hạn luật định.
Về nội dung kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 02 năm 06 tháng tù là đúng người, đúng tội, tương xứng hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình: Đơn xin cải tạo tại địa phương có xác nhận của UBND xã nơi bị cáo cư trú; công văn số 69/CQĐT - ĐTTH ngày 30/01/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Tuyên Quang về việc bị cáo Nguyễn Xuân H đã cung cấp thông tin tố giác tội phạm; tại phiên toà đại diện hợp pháp của bị hại tiếp tục xin cho bị cáo được hưởng án treo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét cho bị cáo. Xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo tiếp tục thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú ổn định rõ ràng, xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương vẫn đảm bảo tính nghiêm minh và có tính giáo dục bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 97/2022/HS-ST ngày 11 tháng 11 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Y về phần hình phạt đối với bị cáo như sau: Căn cứ điểm a, đ khoản 2 Điều 272; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ”, thời gian thử thách 05 (năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại không có ý kiến tham gia tranh luận với Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội cải tạo tại địa phương, lao động chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo tiếp tục thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 23/3/2022, tại khu vực sông Gâm thuộc thôn A, xã X, huyện Y, Nguyễn Xuân H trú tại Thôn C, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang (H không có chứng chỉ chuyên môn lái thuyền gắn máy) đã có hành vi điều khiển thuyền máy số đăng ký TQ-0804 của ông Nguyễn Văn T, trú tại thôn S4, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang để chở khách qua sông, H không phổ biến nội quy an toàn và cách sử dụng các trang thiết bị an toàn, điều khiển phương tiện trong điều kiện thời tiết mưa giông, tầm nhìn bị hạn chế (đã vi phạm khoản 6 Điều 8; điểm c khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 37; điểm a, d khoản 3 Điều 78 Luật Giao thông đường thuỷ nội địa) khiến thuyền bị lật. Hậu quả chị Triệu Thị Thu H và cháu Nguyễn Thị H bị chết do đuối nước.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong quản lý an toàn giao thông đường thuỷ. Bị cáo là người có đủ nhận thức và đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tính nguy hiểm của việc lái tàu thuyền trong thời tiết mưa giông nH vẫn thực hiện dẫn đến lật thuyền gây hậu quả nghiêm trọng. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ” theo khoản 2 Điều 272 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo và hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, người đại diện hợp pháp của bị hại tiếp tục đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo và bị cáo xuất trình tình tiết mới: Đơn xin cải tạo tại địa phương có xác nhận của UBND xã nơi bị cáo cư trú; công văn số 69/CQĐT - ĐTTH ngày 30/01/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Tuyên Quang về việc bị cáo Nguyễn Xuân H đã cung cấp thông tin tố giác tội phạm, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, do vậy thấy không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, khắc phục hậu quả. Vì vậy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2022/HS-ST ngày 11/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Tuyên Quang về phần hình phạt như sau:
Căn cứ: Điểm a, đ khoản 2 Điều 272; các điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ”, thời gian thử thách 05 (năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm, ngày 15/02/2023.
Giao bị cáo Nguyễn Xuân H cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Nguyễn Xuân H thực hiện hành vi phạm tội mới thì buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Trong thời gian thử thách của án treo nếu bị cáo Nguyễn Xuân H cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày 15/02/2023./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - Phòng HSNV CA tỉnh TQ; - Sở Tư pháp tỉnh TQ; - TAND huyện Y, tỉnh TQ; - VKSND huyện Y, tỉnh TQ; - Công an huyện Y, tỉnh TQ; - Chi cục THADS huyện Y; - Bị cáo, ĐDHP của bị hại; - Văn phòng TAND tỉnh; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hồ Thanh Sơn |