- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Thị V. phạm tội “Buôn lậu” - phạm tội buôn lậu (điều 188 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Căn c điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 188 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG ________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HS-PT Ngày: 10-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng
Các Thẩm phán: Ông Thái Văn Chấn
Ông Phạm Tấn Tài
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Bảo Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Thành Năng - Kiểm sát viên
Trong ngày 10 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An
Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 194/2022/HSPT ngày
14 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Trần Thị V. do có kháng cáo của bị cáo V.
đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2022/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2022
của Tòa án nhân dân thành phố Đ.:
Bị cáo có kháng cáo:
Trần Thị V. (Út V.), sinh năm 1978; nơi sinh: huyện A., tỉnh An Giang;
nơi cư trú: tổ 05, khóm VC. 2, phường V.Ng., thành phố Đ., tỉnh An Giang;
trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 03/12; nghề nghiệp: Mua bán; dân tộc: kinh;
giới tính: nữ; tôn giáo: đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C. (đã
chết) và bà Nguyễn Thị T. (đã chết); chồng là Hoàng Văn N., sinh năm 1971 và
có con 02 người, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 23/11/2021 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại
phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Hùng T1. là Luật sư của Văn phòng
Luật sư V.P. thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
(Trong vụ án, còn các bị cáo Trần Thị D., Lê Văn L., người có quyền lợi
và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 27/02/2021, lực lượng phối hợp liên ngành chống
buôn lậu tỉnh An Giang và Công an phường V.Ng., thành phố Đ., tiến hành kiểm tra hành chính 03 căn nhà số 193; số 276 đường Tuy Biên, khóm VC. 2, phường V.Ng. và số 142 đường Phan ích Long, khóm V.T., thuộc phường V.Ng., thành phố Đ., qua đó phát hiện cả 03 căn nhà trên ch a hàng hóa nhập lậu không r nguồn gốc xuất x là các mặt hàng điện tử, điện lạnh, đồ d ng gia dụng, đồ sành s đã qua sử dụng. Lực lượng ch c năng tiến hành lập biên bản tạm giữ, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đ. xác minh, xử lý theo luật định. Qua xác minh, xác định những người liên quan gồm: Trần Thị V., Trần Thị D. (chị ruột V.) và Lê Văn L.; mời làm việc, cả ba thừa nhận 02 căn nhà số 276 đường Tuy Biên và số 142 đường Phan ích Long là của Trần Thị V.; nhà số 193 đường Tuy Biên là của Nguyễn Thị T. (mẹ ruột V.), D. đang sống tại đây. Số hàng hóa nhập lậu không r nguồn gốc xuất x mà Công an thu giữ tại 03 căn nhà là của V. mang từ Gò T.M. (ấp T.M., xã X, huyện B.a, tỉnh Tà Keo, vương quốc Campuchia) về phường V.Ng., thành phố Đ., tỉnh An Giang, bán kiếm lời; L. và D. được V. thuê, giúp V. trông coi, dọn rửa và sửa chữa những hàng hóa này.
Vật chứng thu giữ:
(1) Hàng hóa nhập lậu không r nguồn gốc xuất x là các mặt hàng điện tử,
điện lạnh, đồ d ng gia dụng, đồ sành s đã qua sử dụng (theo Phụ lục I, II, III Bảng kê tang vật theo Biên bản vi phạm hành chính số 0155943/BB-VPHC; số 0155944/BB-VPHC; số 0155945/BB-VPHC do Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh An Giang lập ngày 27/02/2021 tại 03 căn nhà số 193, 276 đường Tuy Biên, khóm VC. 2 và số 142 đường Phan ích Long, khóm V.T., thuộc phường V.Ng., thành phố Đ.);
(2) 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Super Cub, màu xanh đen, biển số
59X3 - 247.82;
(3) 14 loa nghe nhạc; 01 máy casset; 02 âm ly và 02 mixer;
(4) 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A12, màu đen (của
Lê Văn L.);
(5) 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo 2015, màu xanh đen (của Đoàn
Thị Thu Hà);
(6) Tiền Việt Nam 5.000.000 đồng (của ông Lê Văn Nh., cha ruột Lê Văn
L. thay L. nộp lại một phần tiền L. đã hưởng lợi);
(7) 01 USB nhãn hiệu Kingmax loại 64GB lưu trữ 14 file video ghi hình
việc phát hiện, tạm giữ hàng hóa tại 03 căn nhà số 193, 276 đường Tuy Biên, khóm VC. 2 và số 142 đường Phan ích Long, khóm V.T., thuộc phường V.Ng., thành phố Đ., vào ngày 27/02/2021.
(8) 01 USB nhãn hiệu Kingmax loại 64GB lưu trữ 25 đoạn video
livestream bán hàng của tài khoản Facebook “Đồ Gia Dụng Nhật” và “Trùm Sỉ
Ôm Lô” của Đoàn Thị Thu H. trong thời gian từ ngày 25/5/2020 đến ngày
10/01/2021 (trong đó, có 13 đoạn video livestream tại nhà số 142 Phan ích
Long, 09 đoạn video livestream tại nhà số 276 Tuy Biên) và 02 đoạn video
livestream bán hàng của tài khoản Facebook “Đoàn H.” của Đoàn Thị Thu H.
tại nhà số 142 Phan ích Long vào các ngày 13/9/2020 và 05/11/2020, được
trích xuất giọng nói dịch thành văn bản 05 file video, có tiếng nói của Trần Thị
V. (ký hiệu số 1).
(9) 01 USB nhãn hiệu Kingmax, loại 04GB, lưu trữ 01 file âm thanh tên
“FILE_20211201_170133_Ghi tiêu chuẩn 1.mp3” do Huỳnh Thị T1. giao nộp,
ghi âm cuộc nói chuyện giữa Trần Thị V. với Huỳnh Thị T1., nội dung V.
hướng dẫn T1. khai báo với Cơ quan điều tra nhằm che giấu hành vi phạm tội,
được trích xuất giọng nói dịch thành văn bản 01 file âm thanh, có tiếng nói của
Trần Thị V. (ký hiệu số 2).
(10) 01 USB nhãn hiệu Toshiba, loại 16GB, lưu trữ ghi âm giọng nói của
Trần Thị V. (ký hiệu số 3). Tất cả 04 USB lưu kèm hồ sơ vụ án.
Căn c Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 05.8.07/KL-
HĐĐG.TTHS ngày 06/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình
sự tỉnh An Giang, ghi nhận: Tài sản là hàng hóa thu giữ, có giá trị 315.740.000
đồng (Trong đó, nhà số 193: 116.830.000 đồng; nhà số 276: 116.060.000 đồng;
nhà số 142: 82.850.000 đồng). Tại Cáo trạng số 23/CT-VKSCĐ-HS ngày
29/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ. truy tố Trần Thị V. theo
khoản 2 Điều 188 BLHS; bị cáo Trần Thị D., Lê Văn L. theo khoản 1 Điều 188
BLHS.
Ngày 26/4/2022, Tòa án nhân dân thành phố Đ. tiến hành mở phiên tòa
hình sự sơ thẩm, đến ngày 28/4/2022 Hội đồng xét xử quyết định trả hồ sơ để
điều tra bổ sung, làm r thu thập thêm về ch ng c , định giá tài sản lại theo luật
định.
Sau khi thu thập ch ng c , điều tra bổ sung, cơ quan Cảnh sát điều tra ra
Kết luận điều tra bổ sung. Căn c Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự
số 08.22.15/KLHDĐG.TTHS ngày 11/7/2022 của Hội đồng Định giá theo vụ
việc cấp tỉnh, ghi nhận: Tài sản là hàng hóa thu giữ, có giá trị 293.348.300 đồng
(Trong đó, nhà số 193 hàng hóa thu giữ, có giá trị 109.410.390 đồng; nhà số 276
hàng hóa thu giữ, có giá trị 103.122.680 đồng; nhà số 142 hàng hóa thu giữ, có
giá trị 80.815.230 đồng).
Cáo trạng số 54/CT-VKSCĐ-HS ngày 11/8/2022 của Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Đ. đã truy tố các bị cáo Trần Thị V., Trần Thị D., Lê Văn L. về
tội “Buôn lậu” theo khoản 1 Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ
sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2022/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2022
của Tòa án nhân dân thành phố Đ. đã quyết định:
- Căn c vào khoản 1 Điều 188; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
ử phạt Trần Thị V. 02 (hai) năm t . Thời hạn chấp hành hình phạt t của
bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm giam 23/11/2021.
- Căn c vào khoản 1 Điều 188; các điểm i, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 299, khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
ử phạt Trần Thị D. 11 (mười một) tháng 05 (năm) ngày t bằng với thời
gian bị cáo bị tạm giam. Tuyên trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo D., nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
- Căn c vào khoản 1 Điều 188; các điểm i, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
ử phạt Lê Văn L. 01 (một) năm 03 (ba) tháng t . Thời hạn chấp hành
hình phạt t của bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm giam 04/10/2021.
Ngoài ra án sơ thẩm còn buộc bị cáo Trần Thị V. nộp phạt số tiền
40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) sung vào Ngân sách Nhà nước; tuyên về xử lý vật ch ng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/9/2022 bị cáo Trần Thị V. làm đơn kháng
cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Trần Thị V. vẫn giữ yêu
cầu kháng cáo. Bị cáo trình bày: Sau khi xét xử, bị cáo đã thấy được sai phạm, nhận th c được hành vi phạm tội của mình, bị cáo rất ăn năn hối hận. in Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo được sớm trở về lo cho gia đình, lo cho con nhỏ.
Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu
quan điểm về vụ án và đề xuất với Hội đồng xét xử:
- Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Bị cáo Trần Thị V. kháng cáo
trong hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo: Cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá, áp
dụng đầy đủ, đúng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị V. 02 năm t về tội “Buôn lậu”. Đây là m c hình phạt tương x ng với tính chất, m c độ và hành vi phạm tội của bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Trần Thị V. kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xuất trình biên lai đã nộp xong hình phạt bổ sung với số tiền 40.000.000 đồng và được nhiều người dân nơi bị cáo sinh sống có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, có xác nhận của UBND phường V.Ng., thành phố Đ.. Đây được xem là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phát sinh ở giai đoạn phúc thẩm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị V., có thể
xử phạt bị cáo từ 01 năm 08 tháng đến 01 năm 09 tháng t cũng đảm bảo tính
nghiêm minh của pháp luật.
Ông Lê Hùng T. là người bào chữa cho bị cáo có ý kiến trình bày: Không
có ý kiến tranh luận về tội danh. Về phần hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử có
xem xét, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ
như: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình
điều tra bị cáo đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có cha tham gia cách
mạng, từng bị t đày, có nhiều đóng góp trong kháng chiến chống Mỹ và chồng
phục vụ trong lực lượng vũ trang, có nhiều cống hiến, đóng góp trong bảo vệ
biên giới lãnh thổ được tặng bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Bị cáo phạm
tội do nhận th c pháp luật có phần hạn chế. Ngoài ra, trong quá trình xét xử
phúc thẩm, bị cáo đã nộp xong số tiền hình phạt bổ sung là 40.000.000 đồng và
được nhiều người dân nơi bị cáo cư trú xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bị
cáo cũng đã có nhiều đóng góp cho địa phương trong thời gian diễn ra dịch
bệnh. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, có thể xử phạt bị cáo m c án 01
năm 06 tháng t , dưới m c hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị cũng đủ tác
dụng giáo dục, răn đe.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Bị cáo Trần Thị V. kháng cáo trong hạn luật định
nên được Hội đồng xét xử chấp nhận để xét xử phúc thẩm.
Về n i dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Thị V. tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay
hoàn toàn ph hợp với lời khai của các bị cáo, người có quyền lợi ngh a vụ liên
quan, người làm ch ng trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm
đồng thời cũng ph hợp với các tài liệu, ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án. Có
đầy đủ căn c xác định: Trần Thị V. đã có hành vi buôn bán hàng hóa qua biên
giới trái pháp luật, tổng trị giá hàng hóa thu giữ qua định giá của Hội đồng định
giá trong tố tụng hình sự tỉnh An Giang tại 03 căn nhà có địa chỉ số 193, số 276
đường Tuy Biên, khóm VC. 2 và số 142 đường Phan ích Long, khóm V.T.,
phường V.Ng., thành phố Đ. là 293.348.300 đồng. Trong đó, Trần Thị D. giúp
cho V. dọn rửa hàng cũ thành hàng như mới tại nhà số 193 và số 276 đường Tuy
Biên với tổng trị giá 212.532.970 đồng; Lê Văn L. giúp cho V. đến kho ở Gò
T.M., đóng gói hàng cho người đai chuyển về; nhận hàng và dọn rửa hàng cũ
thành hàng như mới chữa tại nhà số 142, 276 với tổng trị giá là 183.937.910
đồng. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Buôn lậu” theo khoản 1 Điều
188 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn c , đúng người, đúng tội và đúng pháp
luật.
Đối với:
- Tô Thị D1. và Lê Văn H1., ngoài lời khai của các bị cáo Trần Thị D. và
Lê Văn L. thì không có ch ng c ch ng minh D1., H1. có làm thuê và tiếp V. trong việc buôn bán hàng hóa mang từ Gò T.M. nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý là ph hợp với quy định của pháp luật.
- Đoàn Thị Thu H2., Đoàn Thị Thu H3., Huỳnh Thị T1., V Thị Kim N1.,
Trương Thanh H4., Trương Đình Phúc H5. và Hoàng Văn N2. đã mua hàng hóa do Trần Thị V. mang từ Gò T.M. về bán; tuy không xử lý nhưng cần công khai giáo dục tại phiên tòa là ph hợp.
- Huỳnh Hoàng T2. (Tuấn Già), Nguyễn Tấn H6., Nguyễn Văn Qu.,
Nguyễn Nhật L1. và Nguyễn Thanh H7., Lê Hoàng B., Đào Văn Th1., Trần Văn V., Trương Văn Đ. và Lê Minh Đ1. có hành vi vận chuyển hàng hóa qua biên giới trái pháp luật nhưng không xác định được số lượng, trị giá hàng hóa nên chưa đủ căn c truy c u trách nhiệm hình sự, chuyển xử lý hành chính và công khai giáo dục tại phiên tòa là ph hợp.
- Đối với số hàng hóa của Trần Thị V. chuyển từ Gò T.M. về, nhờ L. đem
gửi Lê Văn D2., Dương Thị L2. không để mua bán nên Cơ quan điều tra không quy kết trách nhiệm đối với V., L. là ph hợp với quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Trần Thị V.:
Hành vi buôn lậu không chỉ làm thiệt hại đến nền kinh tế đất nước mà còn
xâm hại đến trật tự xã hội, xâm phạm đến an ninh đối nội, đối ngoại, những quy định về xuất, nhập khẩu dẫn đến hậu quả Nhà nước không kiểm soát được hàng hóa nhập khẩu, gây thất thoát thuế xuất nhập khẩu của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội và ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích của người tiêu dùng. Bị cáo Trần Thị V. đ ng trước tòa là người đã trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận th c được hành vi buôn lậu là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi bị cáo đã cố ý thực hiện. Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, tuyên phạt Trần Thị V. 02 năm t là có căn c , ph hợp tính chất, m c độ, hành vi phạm tội của bị cáo.
Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo V. đã vận động gia đình nộp
xong hình phạt bổ sung với số tiền 40.000.000 đồng theo như án sơ thẩm đã tuyên; điều này thể hiện thái độ ăn năn, hối cải và chấp hành pháp luật của bị cáo đối với hành vi phạm tội đã gây ra. Đây là tình tiết mới phát sinh trong giai đoạn phúc thẩm được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo có cung cấp đơn xin giảm nhẹ hình phạt được nhiều người dân tại địa phương nơi bị cáo cư trú đồng ký đơn, có xác nhận của UBND phường V.Ng., thành phố Đ.. Do vậy, để thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội đã biết hối lỗi, Hội đồng xét xử có cân nhắc, xem xét giảm cho bị cáo Trần Thị V. một phần hình phạt theo như đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Trần Thị V. không phải chịu
án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng
cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Thị
V.. Sửa án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Trần Thị V..
Áp dụng khoản 1 Điều 188; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17;
Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
ử phạt: Bị cáo Trần Thị V. 01 (một) năm 09 (chín) tháng t về tội
“Buôn lậu”. Thời hạn chấp hành hình phạt t được tính kể từ ngày 23/11/2021.
Áp dụng khoản 5 Điều 188 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ
sung năm 2017:
Buộc bị cáo Trần Thị V. nộp phạt 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng sung
vào ngân sách Nhà nước. Bị cáo V. đã nộp xong theo Biên lai thu tiền số
0001691 ngày 04/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ..
Bị cáo Trần Thị V. không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng
cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân cấp cao; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang; - Tòa án nhân dân thành phố Đ.; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ.; - Cơ quan Cảnh sát điều tra thành phố Đ.; - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ.; - Sở Tư pháp tỉnh; - Trại tạm giam – Công an tỉnh; - Phòng lưu trữ hồ sơ - Công an tỉnh; - Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án; - Văn phòng; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu Tòa Hình sự; hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hồng |