- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Phạm Thị Kim Ch yêu cầu được ly hôn với anh Hà Kiếm Sĩ"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Thị Kim Ch.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG g Bản án số: 04/2023/HNGĐST Ngày 09-3-2023 V/v tranh chấp “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T H, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phan Thị Trúc Phƣơng
2. Bà Nguyễn Thị Việt Tím
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T H, tỉnh Kiên Giang.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát Nhân dân huyện T H, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Công Đỉnh.
Ngày 09 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án Nhân dân huyện T H, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 262/2022/TLST–HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST–HNGĐ, ngày 02 tháng 2 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 20 tháng 2 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Kim Ch – sinh năm 1975
Địa chỉ: Số 3/3 ấp 2, xã X Th Th, huyện H M, TP. Hồ Chí Minh.
(Có mặt tại phiên tòa)
- Bị đơn: Anh Hà Kiếm S – sinh năm 1981
Địa chỉ: Tổ 6, ấp T Th, xã T H A, huyện T H, tỉnh Kiên Giang.
(Vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Phạm Thị Kim Ch trình bày:
Chị và anh Hà Kiếm S tự quen nhau đi đến tổ chức cưới vào ngày 24/4/2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X Th Th, huyện H M, TP. Hồ Chí Minh. Sau khi cưới vợ chồng sống chung gia đình bên chồng tại xã T H A, đến năm 2016 thì vợ chồng thuê nhà ở tại Thị Trấn T H đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn thì chị Ch về Thành phố Hồ Chí Minh ở sau đó thì vợ chồng chung sống lại với nhau đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, có lối sống không phù hợp, ngoài ra anh S thường hay đi nhậu say về thì chị Ch khuyên anh S nghỉ nhậu thì anh S bỏ nhà đi và vợ chồng đã ly thân từ đó cho đến nay.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Hà Xuân Ph – sinh ngày 22/6/2016.
Cháu Phúc đã có giấy khai sinh và hiện đang sống chung với mẹ.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị Ch yêu cầu:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Ch yêu cầu được ly hôn với anh S.
Về quan hệ con chung: chị Ch xin được tiếp tục nuôi cháu Hà Xuân Ph – sinh ngày 22/6/2016. Chị Ch không yêu cầu cho anh S cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa Anh Hà Kiếm S được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về phiên hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên không có lời khai
* Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
+ Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
+ Nguyên đơn, đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt không lý do nên không thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Kim Ch.
+ Về quan hệ con chung: Đề nghị tiếp tục giao cháu Hà Xuân Ph – sinh ngày 22/6/2016 cho chị Phạm Thị Kim Ch trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Anh Hà Kiếm S có quyền đến thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung, không ai được cản trở.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ch xác nhận không có không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị miễn xét.
+ Về án phí: Chị Phạm Thị Kim Ch phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Kim Ch được quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T H.
Bị đơn anh Hà Kiếm S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về phiên hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, nhưng tại phiên tòa hôm nay anh S vắng mặt không có lý do. Ngoài ra, tại phiên tòa chị Ch yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh S nên Hội đồng xét xử thống nhất căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xét xử vắng mặt anh Hà Kiếm S.
Xét yêu cầu xin ly hôn và nuôi con của chị Phạm Thị Kim Ch, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị Ch và anh S chung sống với nhau được Uỷ ban nhân dân xã X Th Th, huyện H M, Tp.Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 99, ngày 04/06/2014 đúng theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Ch: Trong quá trình vợ chồng anh chị chung sống thì thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, có lối sống không phù hợp, ngoài ra anh S thường hay đi nhậu say về thì chị Ch khuyên anh S nghỉ nhậu thì anh S bỏ nhà đi và vợ chồng đã ly thân từ đó cho đến nay.
Tại phiên tòa, chị Ch vẫn kiên quyết muốn ly hôn, không muốn đoàn tụ.
Xét thấy: Chị Ch, anh S chung sống với nhau bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ năm 2017 cả hai đã tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn chung sống lại với nhau nhưng không thành, mặt khác anh S đã được Tòa án tống đạt các giấy triệu tập để hòa giải đoàn tụ nhưng anh S vẫn vắng mặt không lý do, từ đó cho thấy vợ chồng chị Ch, anh S đã phát sinh mâu thuẫn một thời gian khá dài; ngoài ra, chị Ch và anh S đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Ch và anh S đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc chị Ch yêu cầu được ly hôn với anh S là có cơ sở chấp nhận.
Về quan hệ con chung: Xét yêu cầu được nuôi Hà Xuân Ph – sinh ngày 22/6/2016 của chị Phạm Thị Kim Ch.
Xét thấy, cháu Hà Xuân Ph vẫn đang được chị chi nuôi dưỡng và chị Ch vẫn đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của cháu. Ngoài ra, vì cháu Ph còn nhỏ cần có sự quan tâm và chăm sóc của người mẹ, việc sống chung với mẹ sẽ tốt hơn cho sự phát triển về mọi mặt của cháu. Do đó, yêu cầu của chị Phạm Thị Kim Ch là có cơ sở chấp nhận.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do chị Ch không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phạm Thị Kim Ch xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Từ những nhận định trên, căn cứ vào Điều 56, các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn, nuôi con của chị Phạm Thị Kim Ch.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Thị Kim Ch phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 175, Điều 177, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 9 và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Thị Kim Ch.
1. Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Thị Kim Ch được ly hôn với anh Hà Kiếm S.
2. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Hà Xuân Ph – sinh ngày 22/6/2016 cho chị Phạm Thị Kim Ch trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Hà Kiếm S được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Thị Kim Ch phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002070, ngày 28 tháng 9 năm 2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện T H, tỉnh Kiên Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn anh Hà Kiếm S có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật
| Nơi nhận: - VKSND huyện T H; cục THADS huyện T H; - TAND tỉnh Kiên Giang; - UBND xã X Th Th; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - Chi THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Minh Đạo |