- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thu H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST Ngày 06-01-2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Trà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hậu
Bà Phan Thị Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã
Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng
Tàu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 304/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2022/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thu H, sinh năm 1991; Địa chỉ: Tổ X, thôn C, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (có mặt)
- Bị đơn: Ông Trần Ngọc Đ, sinh năm 1984; Địa chỉ: Tổ X, thôn C, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phạm Thị Thu H trình bày:
Bà H và ông Trần Ngọc Đ tự nguyện kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã Tân Hải, huyện Tân Thành (nay là thị xã Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận kết hôn số 146/TP vào ngày 11-12-2009.
Sau kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2016 thì vợ cH có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Đ thường xuyên sử dụng ma tuý và các chất kích thích cấm khác, không chịu làm ăn, nhiều lần chửi bới xúc phạm, đánh đập bà H. Gia đình nhiều lần đưa ông Đ đi cai nghiện nhưng không có kết quả. Bà H cũng nhiều lần cho ông Đ cơ hội nhưng ông Đ cũng không thay đổi. Do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng đã không còn sống chung được 3 năm, không còn quan tâm đến nhau. Nhận thấy mâu thuẫn không thể hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông Đ.
Về con chung: Vợ chồng bà H có hai con chung là Trần Ngọc B, sinh ngày 29-6-2010 và Trần Bảo N, sinh ngày 12-8-2016. Hiện tại hai con chung do bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên bà H yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng hai con và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Trần Ngọc Đ: Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho ông Đ thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác, nhưng ông Đ không thể hiện ý kiến, yêu cầu, không gửi tài liệu chứng cứ đến Tòa án và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
* Kết quả xác minh tại địa phương: Tại biên bản xác minh ngày 29-11-2022, tại thôn C, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xác định: Bà Phạm Thị Thu H và ông Trần Ngọc Đ là vợ cH chung sống với nhau tại tổ X thôn C, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Tuy nhiên, đời sống vợ chồng bà H, ông Đ xảy ra nhiều mâu thuẫn, do ông Đ nghiện ma tuý, thường xuyên tụ tập với bạn bè và ông Đ có hành vi bạo lực gia đình với bà H. Do mâu thuẫn nên vợ chồng không còn sống chung đã ba năm. Vợ chồng bà H, ông Đ có hai con chung. Các con bà H, ông Đ hiện do bà H chăm sóc nuôi dưỡng phát triển bình thường.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ thụ lý và giải quyết vụ việc trên là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của bà H và kết quả xác minh tại địa phương xác định mâu thuẫn vợ chồng bà H là có thật. Xét mâu thuẫn vợ chồng bà Thảo đã đến mức trầm trọng, mục đích của cuộc hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của bà H.
Về con chung: Xét hiện tại con chung đang do bà H trực tiếp nuôi dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H giao hai con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà H không yêu cầu cấp dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng.
Căn cứ nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, xác định vụ việc giải quyết trên thuộc loại quan hệ về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Trần Ngọc Đ đã được triệu tập hợp pháp lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
Nội dung giải quyết.
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Phạm Thị Thu H và ông Trần Ngọc Đ tự nguyện đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là thị xã Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 11-12-2009 đúng quy định. Do đó hôn nhân của bà H, ông Đ là hợp pháp.
Theo bà H xác định quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Đ nghiện ma tuý và thường xuyên chửi bới, đánh đập bà H. Do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng đã không sống chung với nhau được 3 năm.
Xét lời khai của bà H tuy chỉ một phía, nhưng phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương. Ngoài ra, trong quá trình tố tụng Tòa án đã tổ chức hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, nhưng ông Đ vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không muốn hàn gắn tình cảm với bà H. Do đó, nhận thấy hôn nhân của bà H, ông Đ đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng và không thể hàn gắn được nên cần chấp nhận yêu cầu của bà H, cho bà H được ly hôn với ông Đ là phù hợp.
Về con chung: Bà Phạm Thị Thu H và ông Trần Ngọc Đ có hai con chung là Trần Ngọc B, sinh ngày 29-6-2010 và Trần Bảo N, sinh ngày 12-8-2016. Xét yêu cầu của bà H về giao hai con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng thì thấy: Theo lời trình bày của bà H, cháu Bảo và kết quả xác minh tại địa phương xác định hiện tại hai con chung do bà H trực tiếp nuôi dưỡng và được chăm sóc phát triển bình thường. Ông Đ là người nghiện ma tuý và có hành vi bạo lực nên giao con cho ông Đ nuôi dưỡng là không phù hợp. Để đảm bảo sự phát triển ổn định của các con chung bà H, ông Đ cần tiếp tục giao các con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, là phù hợp với điều kiện thực tế và nguyện vọng của con chung. Do đó, yêu cầu của bà H về việc giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng được chấp nhận. Bà H không yêu cầu nên ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà H, ông Đ không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bà H, ông Đ được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thu H.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thu H được ly hôn với ông Trần Ngọc Đ.
- Về con chung: Bà Phạm Thị Thu H và ông Trần Ngọc Đ có hai con chung là Trần Ngọc B, sinh ngày 29-6-2010 và Trần Bảo N, sinh ngày 12-8-2016.
Giao con chung Trần Ngọc B và Trần Bảo N cho bà Phạm Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Trần Ngọc Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Trần Ngọc Đ có quyền và nghĩa vụ thăm, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản. Ông Đ không được lợi dụng quyền thăm nom gây cản trở quyền trực tiếp nuôi con của người trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích mọi mặt của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con, người trực tiếp nuôi con hoặc có sự thay đổi khác.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết
2. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Phạm Thị Thu H phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0006478 ngày 10 tháng 10 năm 2022, của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ. Như vậy, bà H đã nộp đủ tiền án phí.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND thị xã Phú Mỹ; - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Chi cục THADS thị xã Phú Mỹ; - UBND xã Tân Hải; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Trà |