- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Trần Hồng T xin ly hôn đối với ông Đất Tất Th"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Hồng T được ly hôn với ông Đất Tấn Th.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST Ngày 21/3/2023 V/v “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giang Phước Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lâm Lệ Oanh.
2. Bà Trần Thị An.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Như Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang.
Ngày 21 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 15/2023/TLST-HNGĐ ngày 17/02/2023 về việc “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Hồng T, sinh năm 1980. Địa chỉ: Tổ S, ấp R, xã T, thành phố H, Kiên Giang.
2. Bị đơn: Ông Đất Tấn Th, sinh năm 1979. Địa chỉ: Tổ S, ấp R, xã T, thành phố H, Kiên Giang.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 02 năm 2023 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Trần Hồng T trình bày: Bà và ông Đất Tấn Th kết hôn vào năm 1999, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang vào ngày 24/9/1999. Trong cuộc sống vợ chồng thời gian đầu chung sống cùng nhau hạnh phúc, sau này thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cải nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Hiện nay không thể hàn gắn để đoàn tụ về chung sống với nhau và nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu được ly hôn với ông Đất Tấn Th.
Về con chung: Quá trình chung sống ông bà có 02 con chung tên Đất Thị Tú A, giới tính nữ, sinh ngày 02/6/1999, Đất Thị Xuân Q, giới tính nữ, sinh ngaỳ 08/10/2003, hiện các con chung đã trưởng thành.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Đất Tấn Th có đơn xin vắng mặt, tại bản tự khai ngày 08/3/2023, ông Th trình bày: Ông và bà Trần Hồng T chung sống với nhau vào năm 1999, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang vào ngày 24/9/1999. Trong cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bà T có hành vi quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, ông có tha thứ nhiều lần nhưng bà T không thay đổi, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài. Nay bà T xin ly hôn ông đồng ý ly hôn.
Về con chung: Quá trình chung sống ông bà có 02 con chung tên Đất Thị Tú A, giới tính nữ, sinh ngày 02/6/1999, Đất Thị Xuân Q, giới tính nữ, sinh ngaỳ 08/10/2003, hiện các con chung đã trưởng thành.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và căn cứ Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đây là vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc xin ly hôn. Trong vụ án này bị đơn ông Đất Tấn Th cư trú tại ấp R, xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố H.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Đất Tấn Th có đơn xin vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung: Bà Trần Hồng T và ông Đất Tấn Th kết hôn vào năm 1999, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang vào ngày 24/9/1999. Như vậy hôn nhân của ông bà là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà T, ông Th đều xác nhận quan hệ hôn nhân của ông bà đã rạn nứt, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, hiện nay không còn yêu thương, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không muốn quay về đoàn tụ. Xét thấy hôn nhân của bà T, ông Th đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, quá trình thụ lý giải quyết bà T vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện là xin ly hôn với ông Th; Tại bản tự khai ngày 08/3/2023 ông Th cũng thống nhất ly hôn nhưng ông Th có đơn xin vắng mặt, nên áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, nghị cần chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông Th.
Về con chung: Quá trình chung sống ông bà có 02 con chung tên Đất Thị Tú A, giới tính nữ, sinh ngày 02/6/1999, Đất Thị Xuân Q, giới tính nữ, sinh ngày 08/10/2003, hiện các con chung đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Ông bà trình bày tự thỏa thuận phân chia nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Ông bà trình bày không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà T khởi kiện nên phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Hồng T được ly hôn với ông Đất Tấn Th.
- Con chung: Đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét
- Tài sản chung: Ông bà trình bày tự thỏa thuận phân chia nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Nợ chung: Ông bà trình bày không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về án phí: Bà Trần Hồng T phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai tạm ứng án phí số 0001477 ngày 17 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố H, nay bà T không phải nộp thêm.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh KG; - VKSND tỉnh Kiên Giang - VKSND thành phố H; - Chi cục THADS Tp H; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giang Phước Thành |