vanban.org

Bản án 04/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Huỳnh Thị C và ông Dương Hiếu T.

Việc nuôi con: Giao cháu Dương Nhã V, sinh ngày 16 tháng 01 năm 2016 cho ông Dương Hiếu T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA: C_T"
  • Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Huỳnh Thị C và ông Dương Hiếu T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ G
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST
Ngày 18 - 01 – 2023
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G – TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Minh Tấn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Sơn Hoài Tâm

2. Ông Trần Văn Rồng

- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Đèo –Thư ký Tòa án nhân dân thị xã G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Mộng Đẹp – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã G xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 510/2022/TLST–HNGĐ, ngày 01 tháng 12 năm 2022 về tranh chấp ly hôn và nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Huỳnh Thị C, sinh năm 1995; địa chỉ cư trú: ấp 8, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)

- Bị đơn: ông Dương Hiếu T, sinh năm 1992; đia chỉ cư trú: ấp 8, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 22 tháng 11 năm 2022 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn trình bày:

+ Quan hệ hôn nhân: bà và ông T sống chung với nhau từ năm 2014 và có đăng ký kết hôn. Hai người đã ly thân khoảng 04 năm nay, lý do: ông T không lo làm, mà chỉ lo ăn chơi và có phụ nữ khác bên ngoài. Nay bà C yêu cầu ly hôn với ông T.

+ Việc nuôi con: bà và ông T có 01 người con tên chung tên Dương Nhã V, sinh ngày 16 tháng 01 năm 2016 và hiện đang sống chung với ông T, bà yêu cầu giao cho ông T tiếp tục nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng.

+ Chia tài sản: không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Dương Hiếu T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên không thể tiến hành lấy lời khai được.

- Kiểm sát viên phát biểu:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn không có mặt theo giấy triệu của Tòa án, vắng mặt tại phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải là không thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại các Điều 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

+ Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị C xin ly hôn với ông Dương Hiếu T.

+ Về quan hệ con: giao con chung cháu Dương Nhã V, sinh ngày 16 tháng 01 năm 2016 cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng và tạm miễn việc cấp dưỡng.

+ Chia tài sản: không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên việc xét xử vắng mặt của họ là phù hợp với quy định tại các Điều 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan hệ hôn nhân: do ông T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt và không thể tiến hành lấy lời khai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của bà C để giải quyết theo quy định. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà C và ông T là hôn nhân hợp pháp. Thông qua lời khai của bà C đã chứng minh được bà và ông T ly thân khoảng 04 năm nay, với những lý do mà bà đưa ra. Từ đó, cho thấy hôn nhân giữa họ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Đây là căn cứ ly hôn theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu của bà Huỳnh Thị C được ly hôn với ông Dương Hiếu T.

Việc nuôi con:

- Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”

- Cháu Dương Nhã V sống với ông T từ khi ly thân cho đến nay và đang phát triển bình thường nên việc giao cho bà C yêu cầu giao cho ông T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con do mình không trực tiếp nuôi, mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

- Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

- Về cấp dưỡng: Do bà Huỳnh Thị C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trong trường hợp ông Dương Hiếu T có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

Chia tài sản: bà Huỳnh Thị C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G là phù hợp nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí:

- Bà Huỳnh Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000đ, khấu trừ số tiền đã dự nộp tạm ứng theo biên lai thu tiền số 0004559 ngày 01 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã G.

- Ông Dương Hiếu T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 147, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Huỳnh Thị C và ông Dương Hiếu T.

2. Việc nuôi con:

- Giao cháu Dương Nhã V, sinh ngày 16 tháng 01 năm 2016 cho ông Dương Hiếu T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

- Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con do mình không trực tiếp nuôi, mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

- Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

- Về cấp dưỡng: Do bà Huỳnh Thị C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trong trường hợp ông Dương Hiếu T có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

3. Chia tài sản: bà Huỳnh Thị C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí:

- Bà Huỳnh Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000đ, khấu trừ số tiền đã dự nộp tạm ứng theo biên lai thu tiền số 0004559 ngày 01 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã G.

- Ông Dương Hiếu T không phải chịu án phí.

5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ