vanban.org

Bản án 04/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Vũ Thị K ly hôn với ông Đỗ Đình T.

Về án phí: Bà Vũ Thị K phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà bà K đã nộp theo Biên lai số 0001596 ngày 03/10/2022 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Về quyền khá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị K - Đỗ Đình T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Vũ Thị K ly hôn với ông Đỗ Đình T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÒA BÌNH
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12/01/2023.
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CÔNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Quỳnh Anh.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Trung và bà Phạm Thị Nga.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Lan Hương - Thư ký viên chính Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hòa – Kiểm sát viên.

Ngày 12/01/2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hoà Bình, tỉnh Hòa Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 252/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc: Ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2022/QĐXX-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị K, Sinh năm 1967;

Nơi ĐKHKTT: Xóm C, xã Q, huyện T, tỉnh Hòa Bình.

Chỗ ở: Xóm Máy 2, xã Hòa Bình, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

- Bị đơn: Ông Đỗ Đình T, sinh năm 1957;

Nơi cư trú: Xóm Máy 2, xã Hòa Bình, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

(Bà K có mặt; ông T vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Vũ Thị K trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đỗ Đình T chung sống với nhau từ năm 1993, đến năm 2017 đăng ký kết hôn vào năm 2017, tại UBND xã Quy Hậu, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình. Thời gian đầu vợ chồng sinh sống tại xóm Cộng 1, xã Quy Hậu, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, đến đầu năm 2021 vợ chồng chuyển ra ở cùng con trai tại Xóm Máy 2, xã Hòa Bình, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Cuộc sống sau khi kết hôn vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do hai bên xảy ra bất đồng quan điểm, không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã, hai vợ chồng hiện không còn quan tâm đến nhau, ông T thường xuyên bỏ nhà đi, giữa bà và ông T không còn tình cảm. Vợ chồng bà hiện đã sống ly thân, bà K đề nghị ly hôn với ông T.

- Về con chung: Có 01 con chung là Đỗ Tuấn Vũ, sinh ngày 26/8/1995. Hiện tại cháu Vũ đã trưởng thành nên bà K không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung và công nợ chung: Bà K cho rằng vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung, nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

- Về án phí ly hôn: Bà K tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn.

Quá trình cung cấp chứng cứ, ông Đỗ Đình T vắng mặt, không tham gia tố tụng, mặc dù đã được tống đạt văn bản tố tụng, triệu tập làm việc nhiều lần.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn giữ nguyên những quan điểm đã nêu.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Phía bị đơn đã được tống đạt các giấy triệu tập phiên tòa hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt, nên áp dụng các điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho bà K ly hôn với ông T. Về con chung: Có 01 con chung là Đỗ Tuấn Vũ, sinh ngày 26/8/1995, hiện tại anh Vũ đã trưởng thành, bà K không yêu cầu giải quyết, nên không xét. Về tài sản chung, công nợ chung: Bà K cho rằng không có, không yêu cầu giải quyết, nên không đề cập. Về án phí, nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong Hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đều hợp pháp. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong Hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp về hôn nhân gia đình, cụ thể là về việc ly hôn. Đồng thời, bị đơn - ông Đỗ Đình T có đăng ký Hộ khẩu thường trú và chỗ ở tại xã Hòa Bình, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 29 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Bị đơn - ông Đỗ Đình T đã được tống đạt giấy triệu tập phiên tòa hợp pháp nhiều lần nhưng vắng mặt. Căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tòa xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị K và ông Đỗ Đình T là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn. Tuy nhiên quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn trầm trọng, chung sống không hạnh phúc; Bà K và ông T đã ly thân kéo dài, cuộc sống chung thực tế không tồn tại. Nay bà K xin được ly hôn với ông T là phù hợp căn cứ luật định, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà K.

Về con chung: Bà Vũ Thị K và ông Đỗ Đình T có 01 con chung là Đỗ Tuấn Vũ, sinh ngày 26/8/1995. Hiện nay anh Vũ đã trưởng thành, bà K không yêu cầu giải quyết về con chung. Do vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Đương sự khẳng định vợ chồng không có tài sản chung, công nợ chung, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn tự nguyện chịu án phí ly hôn sơ thẩm, sự tự nguyện phù hợp pháp luật, được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 29 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Vũ Thị K ly hôn với ông Đỗ Đình T.

2. Về án phí: Bà Vũ Thị K phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà bà K đã nộp theo Biên lai số 0001596 ngày 03/10/2022 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kết quả xét xử.

Cỡ chữ