- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị D xin ly hôn anh L"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Mai Thị D và anh Mỵ Duy L được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11/01/2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Quách Hà Vính
2. Bà Trần Thị Dần
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hùng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 278/2022/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Mai Thị D; Sinh năm: 1996
Địa chỉ: Ấp 2, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Có mặt tại phiên tòa.
2. Bị đơn: Anh Mỵ Duy L; Sinh năm: 1991
Địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 29/11/2022 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Mai Thị D trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Mỵ Duy L kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai ngày 26/9/2016. Sau khi kết hôn chỉ hòa thuận được một thời gian ngắn thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do trước khi kết hôn, hai bên chưa có nhiều thời gian tìm hiểu kỹ về nhau nên khi chung sống một nhà thì vợ chồng thường xuyên cãi vã, cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Thêm vào đó, do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, vợ chồng thường xuyên phải làm xa mỗi người một nơi nên tình cảm ngày càng phai nhạt. Hiện tại, chị và anh L đã sống ly thân, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Đến nay, chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể không thể chung sống với anh L được nữa nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành giải quyết cho chị được ly hôn anh L.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Mỵ Duy T, sinh ngày 14/02/2017 và Mỵ Ngọc Tr, sinh ngày 26/01/2019. Ly hôn, chị D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tr và giao cháu T cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Về tài sản: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 12/02/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, anh Mỵ Duy L trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Mai Thị D kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 26/09/2016 tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn, vợ chồng hòa thuận đến tháng 8 năm 2021 thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, không cùng chung quan điểm sống nên thường xuyên sảy ra cãi cọ. Mỗi lần cãi nhau chị D lại bỏ nhà ra đi. Anh đã nhiều lần động viên, khuyên giải nhưng chị D vẫn không thay đổi tính nết. Nay chị D làm đơn xin ly hôn với anh, anh xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên anh đồng ý ly hôn với chị D.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Mỵ Duy T, sinh ngày 14/02/2017 và Mỵ Ngọc Tr, sinh ngày 26/01/2019. Ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con và không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.
Về tài sản: Anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của các đương sự trong vụ án. Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như các thành viên của Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là HĐXX) và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Sau đây viết tắt là BLTTDS). Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình. Về hôn nhân: Xử cho chị Mai Thị D và anh Mỵ Duy L được ly hôn; Về con chung: Giao cháu Mỵ Ngọc Tr, sinh ngày 26/01/2019 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, anh L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Mỵ Duy T, sinh ngày 14/02/2017, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
. Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình có con chưa thành niên và trong quá trình giải quyết vụ án, do các bên đương sự chưa thống nhất được các vấn đề tranh chấp trong vụ án nên Tòa án đã tiến hành xác minh để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo khoản 3 Điều 208 BLTTDS và đã thông báo kết quả thu thập tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự cũng nhưng VKS được biết.
. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho các bên đương sự, nhưng anh L vắng mặt nên Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vắng mặt anh L và đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho anh L theo khoản 3 Điều 210 BLTTDS.
. Về hôn nhân: Chị Mai Thị D và anh Mỵ Duy L kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai ngày 26/9/2016 và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn nhưng đến cuối năm 2021 thì sảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do trước khi kết hôn, hai bên chưa tìm hiểu kỹ về nhau nên khi chung sống một nhà thì vợ chồng sảy ra bất đồng quan điểm, thường xuyên sảy ra cãi cọ. Thêm vào đó, do điều kiện công việc thường xuyên phải xa nhau nên tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Hiện tại, chị D và anh L đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau nữa. Việc này, cả chị D và anh L đều thừa nhận và cũng phù hợp với nội dung mà Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương. Nay cả chị D và anh L đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh, chị được ly hôn. HĐXX nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Mai Thị D và anh Mỵ Duy L được ly hôn.
. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Mỵ Duy T, sinh ngày 14/02/2017 và Mỵ Ngọc Tr, sinh ngày 26/01/2019. Xét thấy, cháu Tr là con gái, lại đang còn rất nhỏ, còn cháu T lớn hơn và bản thân cháu là con trai. Do đó, nên chấp nhận yêu cầu của chị D, giao cháu Tr cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, anh L trực tiếp nuôi dưỡng cháu T sẽ là phù hợp về mặt tình cảm và giới tính.
. Về tài sản: Chị D và anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
. Về án phí: Chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 BLTTDS; Điều 6; Khoản 1 Điều 24; Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Mai Thị D và anh Mỵ Duy L được ly hôn.
2. Về con chung: Giao cháu Mỵ Ngọc Tr, sinh ngày 26/01/2019 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, anh L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Mỵ Duy T, sinh ngày 14/02/2017. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Chị D và anh L có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Mai Thị D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành theo biên lai số AA/2021/0007885 ngày 30/11/2022. Chị D đã nộp đủ tiền án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị Mai Thị D và anh Mỵ Duy L. Chị D và anh L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Thạch Thành; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cúc |