- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Nguyễn Thị L - Hồ Văn Th"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11-01-2023 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Xuân Tùng.
2. Bà Hoàng Hương Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 300/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 80/2022/QĐST-HNGĐ ngày 21/12/2022, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1995. Nơi ĐKHKTT: Xóm Tân Xuân, xã Qu B, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Nơi ở hiện nay: Thôn 6, xã Qu H, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Hồ Văn Th, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Xóm Tân Xuân, xã Qu B, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 9 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày: Chị và anh Hồ Văn Th lấy nhau tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 09/6/2012 tại UBND xã Qu H. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do tính cách không phù hợp, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, anh Th chửi bới, đánh đập chị. Mặc dù chị đã nhiều lần cố gắng nhường nhịn để hàn gắn tình cảm nhưng không được. Chị và anh Th sống ly thân từ năm 2017 đến nay, trong thời gian sống ly thân giữa chị và anh Th không có biện pháp nào để khắc phục mâu thuẫn. Chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Th. Vợ chồng chị có 02 (hai) con chung Hồ Văn T, sinh ngày 01/01/2013 và Hồ Văn T1, sinh ngày 03/8/2014, hiện nay cháu T đang ở với anh Th tại xã Quỳnh Bảng, cháu T1 đang ở với chị và ông bà ngoại tại xã Qu H. Ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi cháu T1 còn giao cháu T cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con. Chị làm công nhân, thu nhập bình quân mỗi tháng 7.000.000đồng. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản.
Tại Biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải, bị đơn anh Hồ Văn Th trình bày: Anh thống nhất như lời trình bày của chị L về thời gian và địa điểm đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống có xảy ra ít mâu thuẫn nhỏ do nóng giận anh có tát chị L, sau đó chị L đưa con về bên ngoại tại xã Qu H sống cùng bố mẹ, trong thời gian đó anh nhiều lần lên nhà nói chuyện khuyên bàn để chị Lộc bỏ qua cho anh, cho anh cơ hội để khắc phục nhưng chị L không đồng ý. Nay chị L xin ly hôn anh không đồng ý vì đang còn tình cảm với chị L, anh mong chị cho anh thêm cơ hội. Hiện tại anh cũng chưa có biện pháp gì để giải quyết mâu thuẫn của vợ chồng. Anh đề nghị Tòa án cho anh và chị L đoàn tụ. Vợ chồng anh có 02 con chung như chị L trình bày đúng. Nếu phải ly hôn anh nhất trí như ý kiến chị L và nguyện vọng của các con. Giao con chung Hồ Văn T, sinh ngày 01/01/2013 cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con Hồ Văn T1, sinh ngày 03/8/2014 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau, anh làm nghề trang trí nội thất, thu nhập mỗi tháng 10.000.000đồng. Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
Ý kiến cháu Hồ Văn T1 và Hồ Văn T: Cháu T có nguyện vọng được ở với bố, cháu T1 có nguyện vọng được ở với mẹ.
Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Qu B: Anh Th có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm Tân Xuân, xã Qu B. Nguyên nhân mâu thuẫn như thế nào địa phương không rõ vì không qua hòa giải tại cơ sở. Nay chị L yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý, thu thập chứng cứ giải quyết vụ án, tống đạt văn bản cho Viện kiểm sát và đương sự của Thẩm phán hoàn toàn đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử, thư ký tuân theo quy định pháp luật trong quá trình xét xử. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật, đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử hai lần, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đương sự là đúng quy định.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Hồ Văn Th. Giao con Hồ Văn T, sinh ngày 03/8/2014 cho chị Lộc; Hồ Văn T1, sinh ngày 01/01/2013 cho anh Thắm, trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Tài sản chung không giải quyết. Nguyên đơn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây vụ án về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, bị đơn anh Hồ Văn Th có đăng ký hộ khẩu tại xã Quỳnh Bảng, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 và khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Về việc xét xử vắng mặt: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử hai lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung:
Quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị L, anh Th là hợp pháp, tuân thủ điều kiện pháp luật quy định (Giấy chứng nhận kết hôn số 30/2012). Quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn do quan điểm, tính cách bất đồng và hiện đang sống ly thân, chị L, anh Th không tìm được biện pháp để giải quyết mâu thuẫn. Tòa án tiến hành hòa giải để các bên hàn gắn tình cảm đoàn tụ nhưng chị Lc giữ nguyên quan điểm xin ly hôn, anh Th xin đoàn tụ nhưng không được chị L chấp nhận. Chị L và anh Th sống ly thân từ năm 2017 đến nay thời gian đã lâu nên tình cảm không còn. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị L, anh Th đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung đã chấm dứt. Do đó cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị L được ly hôn anh Th.
Về con chung: Vợ chồng có 02 (hai) con chung Hồ Văn T, sinh ngày 01/01/2013 và Hồ Văn T1, sinh ngày 03/8/2014, hiện nay cháu T đang ở với anh Th, cháu T1 đang ở với chị L, các con đều đã ổn định cuộc sống, học tập và phát triển thể chất khỏe mạnh nên công nhận sự thỏa thuận về việc nuôi con giữa anh Th và chị L cũng như nguyện vọng của các con. Giao con chung Hồ Văn T1, sinh ngày 03/8/2014 cho chị Lộc trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Hồ Văn T, sinh ngày 01/01/2013 cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị L, anh Th vì không ai yêu cầu.
Chị Nguyễn Thị L và anh Hồ Văn Th có quyền đi lại, thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Các Điều 28, 35, 39, khoản 1 Điều 40, 147, 227, 228, 238 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Hồ Văn Th.
2. Về con chung: Giao con chung Hồ Văn T1, sinh ngày 03/8/2014 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung Hồ Văn T, sinh ngày 01/01/2013 cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị L, anh Th vì không ai yêu cầu.
Chị Nguyễn Thị L và anh Hồ Văn Th có quyền đi lại, thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản: Không xem xét.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tiền số 0012553 ngày 14/10/2022.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Quỳnh Lưu; - CCTHADS huyện Quỳnh Lưu; - UBND xã Qu H (nơi ĐKKH 2012); - Đương sự; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hải Yến |