- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị H - Vi Quốc Đ"
- Tòa quyết gì? VÒ quan hÖ h«n nh©n: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hoàng Thị H, cho chị Hoàng Thị H được ly hôn với anh Vi Quốc Đ.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HOÀ TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST Ngày 16 tháng 5 năm 2023. "Về việc: Ly hôn, nuôi con". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HOÀ - CAO BẰNG
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thúy.
- Các Hội thẩm nhân dân gồm:
+ Ông Bế Văn Hạnh;
+ Ông Mông Văn Thành.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Thành Dương- Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Lục Thị Hà - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 95/2022/TLST – HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2022 về việc “ xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 481/2023/QĐ-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, Cao Bằng giữa các đương sự:
- Nguyên đơn Hoàng Thị H - Sinh năm 198x
Địa chỉ: Xóm TB, xã PH, huyện QH, tỉnh Cao Bằng. Có đơn đề nghị xét
xử vắng mặt.
- Bị đơn Vi Quốc Đ – Sinh năm 198x; Địa chỉ: Xóm TB, xã PH, huyện
QH, tỉnh Cao Bằng. Hiện đang cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh CB. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 13/11/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Hoàng Thị H trình bày:
Tôi kết hôn với anh Vi Quốc Đ vào ngày 20/3/2015, hôn nhân có được tìm hiểu, có tự nguyện và tổ chức lễ cưới ở hai bên gia đình, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PH, huyện QH, tỉnh Cao Bằng. Trong quá trình chung sống do anh Đ mắc nghiện ma túy nên vợ chồng luôn mâu thuẫn với nhau về tiền bạc. Mâu thuẫn vợ chồng đã được anh em họ hàng can ngăn và hòa giải nhưng không thành, anh Đ trộm đồ đạc trong gia đình đi bán để lấy tiền sử dụng ma túy. Cuối năm 2021, tôi và anh Đ đã sống ly thân cho tới nay. Tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn với anh Đ.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Vi Quốc Bảo L sinh ngày 22/01/2016, hiện nay con đang ở với ông bà nội. Khi vợ chồng ly hôn, tôi là người trực tiếp nuôi con, không cần anh Đ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
* Tại biên bản lấy lời khai bị đơn Vi Quốc Đ trình bày:
Tôi kết hôn với chị H trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu và có tổ chức lễ cưới ở hai bên gia đình, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PH, huyện QH, tỉnh Cao Bằng ngày 20/3/2015. Vợ chồng không hạnh phúc từ sau khi kết hôn. Nguyên nhân, lý do dẫn đến vợ chồng không hạnh phúc tôi xin phép không trình bày. Quá trình xảy ra mâu thuẫn vợ chồng vẫn sống chung với nhau. Tôi xác định vẫn còn tình cảm với chị H, tôi không nhất trí ly hôn và muốn vợ chồng đoàn tụ với nhau.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Vi Quốc Bảo L sinh ngày 22/01/2016. Hiện con đang ở với ông bà nội. Trường hợp ly hôn, tôi mong muốn là người trực tiếp nuôi con, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Không có.
* Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai cháu Vi Quốc Bảo L có ý kiến:
Trường hợp bố mẹ không chung sống với nhau nữa thì cháu có nguyện vọng được sống cùng với mẹ.
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Hoàng Thị H có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải với lý do: Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên cương quyết xin ly hôn với anh Đ, đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hoàng Thị H, cho chị Hoàng Thị H được ly hôn với anh Vi Quốc Đ; Giao con chung Vi Quốc Bảo L sinh ngày 22/01/2016 cho chị Hoàng Thị H nuôi dưỡng, giáo dục;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn Hoàng Thị H có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn Vi Quốc Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt do đang cai nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng. Căn cứ Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt chị H và anh Đ.
[ 2] Về quan hệ hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị H và anh Vi Quốc Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PH, huyện QH, tỉnh Cao Bằng là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo chị H là do anh Đ mắc nghiện và mang đồ đạc trong gia đình đi bán để lấy tiền sử dụng ma túy, chị H đã khuyên bảo nhưng không được. Còn theo anh Đ cũng thừa nhận vợ chồng không hạnh phúc từ sau khi kết hôn nhưng anh xác định vẫn còn tình cảm với chị H và xin được đoàn tụ.
Qua xác minh tình trạng hôn nhân của chị H và anh Đ tại xóm TB (thông qua Bí thư chi bộ xóm, qua ông Vi Văn T (bố của anh Đ) và bà Liêu Thị N (mẹ của chị H)) cho thấy: Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng xuất phát từ việc anh Đ sử dụng ma túy, chị H có nhắc nhở nhưng anh Đ không nghe.
Xét thấy: Tình cảm vợ chồng để đoàn tụ, cùng nhau xây dựng hạnh phúc cần có sự mong muốn từ hai phía (cả chị H và anh Đ). Về phía chị H xác định vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2021 cho đến nay, tình cảm vợ chồng không còn nên cương quyết xin được ly hôn. Do đó cần xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh Đ đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị H và cho chị H được ly hôn với anh Vi Quốc Đ.
[ 3] Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa chị Hoàng Thị H và anh Vi Quốc Đ có 01 con chung là Vi Quốc Bảo L sinh ngày 22/01/2016. Khi ly hôn, cả chị H và anh Đ đều có yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, hiện nay anh Vi Quốc Đ đang cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh CB, còn chị Hoàng Thị H có công việc và thu nhập ổn định. Tại bản tự khai cháu Vi Quốc Bảo L cũng có nguyện vọng muốn được ở với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của chị H, không trái với quy định của pháp luật.
[4] Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 147; Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của ñy ban th êng vô Quèc héi quy ®Þnh vÒ mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử:
1. VÒ quan hÖ h«n nh©n: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hoàng Thị H, cho chị Hoàng Thị H được ly hôn với anh Vi Quốc Đ.
2. Về con chung: Giao con chung Vi Quốc Bảo L sinh ngày 22/01/2016 cho chị Hoàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Anh Vi Quốc Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 83, 84 và 116 của Luật hôn nhân và gia đình.
3. VÒ ¸n phÝ: Chị Hoàng Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, đ îc khấu trừ vµo sè tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng theo biªn lai sè 0004686 ngày 14 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Hòa, Cao Bằng; chị H đã nộp đủ tiền án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. N¬i nhËn:
| -Toµ ¸n tØnh; -VKS tØnh; -VKS huyÖn; -CCTHA huyÖn; - C¸c ® ¬ng sù; - UBND xã PH; - L u HS, AV. | tm. Héi ®ång xÐt xö ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ Hoàng Thị Thúy |