vanban.org

Bản án 04/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Nở đối với bị đơn ông Bùi Tâm.

Về hôn nhân: Bà Trần Thị N được ly hôn với ông Bùi T. Về con chung: Bà Trần Thị N có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là cháu Bùi Ánh Ng – sinh ngày: 22/12/2016. Ông Bùi T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Nở không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nở Tâm, ly hôn tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Nở đối với bị đơn ông Bùi Tâm.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NINH HẢI
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10/01/2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI - TỈNH NINH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Thành và bà Trần Thị Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thụy Anh Đào – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cảnh – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 274/2022/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 11 năm 2022 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị N – sinh năm: 1974. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Bùi T, sinh năm: 1971. Có mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn KT, xã NH, huyện H, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn bà Trần Thị N trình bày: Bà và ông Bùi T là vợ chồng hợp pháp, tự nguyện đăng ký kết hôn vào 19/4/2006 tại UBND xã Nhơn Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Trước đó vợ chồng bà đã tổ chức cưới hỏi và về chung sống với nhau từ năm 1994 và có 02 chung, sau khi kết hôn một thời gian bà đã sinh thêm cháu Bùi Ánh Ng. Từ khi về chung sống với nhau vợ chồng không được hạnh phúc do khi nhậu say về ông T hay đánh, chửi vợ. Mặc dù gia đình hai bên và vợ chồng cũng nhiều lần tự hòa giải, chính quyền địa phương cũng nhắc nhở nên gần đây ông T không đánh vợ nữa nhưng khi nhậu say ông T vẫn kiếm cớ đuổi và chửi vợ, đe dọa đánh giết vợ nên bà không chịu đựng được và bỏ ra ngoài sống từ đầu tháng 11/2022 cho đến nay, ông T cũng không kêu bà về nhà, vẫn dọa đánh nên nên bà cũng không dám về nhà và đưa con đi theo về nhà mẹ ruột sống. Nay bà không còn tình cảm với ông T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

Vợ chồng bà có 03 con chung là Bùi R – sinh năm: 1995, Bùi Kh – sinh năm: 1997 và Bùi Ánh Ng – sinh ngày: 22/12/2016. Hiện nay cháu R, cháu Kh đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết, còn cháu Ng còn nhỏ nên bà yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay bà buôn bán nhỏ nên thu nhập khoảng 10 triệu/tháng nên đủ lo cho con. Tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết .

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Bùi T trình bày: Ông đồng ý trình bày về việc vợ chồng tự nguyện kết hôn và có con chung như ý kiến của bà N. Trước đây ông có đánh vợ nhưng gần đây ông không đánh vợ nữa, do bà N tự ý làm mọi việc trong nhà mà không hỏi ý kiến của ông, đi đâu làm gì không cho ông biết nên ông có nói to tiếng, đuổi vợ đi chứ ông không đánh vợ, bà N muốn về thì tự về chứ ông không năn nỉ. Ông còn thương vợ nên mong bà N suy nghĩ lại để vợ chồng về đoàn tụ, ông hứa sẽ không đánh bà N. Nếu bà N nhất quyết không chịu về chung sống lại với ông thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung ông đồng ý như bà N trình bày và đồng ý giao con chung chưa thành niên là cháu Ng cho bà N nuôi ông không cấp dưỡng nuôi con, nếu cháu Ng ở với ông thì ông sẽ nuôi và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tài sản và nợ không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên ý kiến đã trình bày.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành pháp luật

Về nội dung: Mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Trần Thị N và ông Bùi T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng không thể hòa giải với nhau được về tình cảm nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N và giao con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, ông Tâm không phải cấp dưỡng nuôi con do bà N không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Trần Thị Nở phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Qua nghiên c u các tài iệu, ch ng c c trong hồ sơ vụ án và i trình bày của đương s đã đư c thẩm tra tại phiên tòa.

Căn c kết quả xét hỏi công khai và nghe ý kiến phát biểu của các đương s tại phiên tòa.

Sau khi Hội đồng xét xử nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bà Trần Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Bùi T, yêu cầu nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, bị đơn có nơi cư trú ở huyện Ninh Hải. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị N và ông Bùi T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Nhơn Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận vào ngày 19/4/2006 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Ông T và bà N đều thừa nhận vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không hòa hợp với nhau, không tin tưởng nhau nên cuộc sống chung không hạnh phúc, hay cãi nhau có khi đánh nhau, hiện nay tình cảm vợ chồng không hàn gắn được. Ông T cho rằng còn thương vợ nhưng quá trình trình giải quyết vụ án không có tác động để bà Nở về chung sống mà vẫn chửi, dọa đánh đuổi nên mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn. Chính quyền địa phương nơi bà N

- ông T cư trú (BQL thôn KT) thể hiện vợ chồng ông T - bà N chung sống thường xảy ra đánh cãi nhau, hiện nay vợ chồng không còn chung sống với nhau, con chung chưa thành niên do bà N nuôi dưỡng, cho ăn học đầy đủ phát triển bình thường (BL 30, 31).

Xét thấy: Mâu thuẫn giữa bà N và ông T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N được ly hôn với ông T.

Về con chung: Vợ chồng N – ông T có 03 con chung là Bùi R – sinh năm: 1995, Bùi Kh – sinh năm: 1997 và Bùi Ánh Ng – sinh ngày: 22/12/2016. Hiện nay cháu R, cháu Kh đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết, còn cháu Ng còn nhỏ nên bà N yêu cầu được nuôi và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay bà N buôn bán nhỏ nên thu nhập khoảng 10triệu/tháng, đủ lo cho con. Thực tế hiện nay cháu Ng cháu sống với mẹ và được chăm sóc đầy đủ mọi mặt, các đương sự đều thống nhất giao các con chung cho bà Nở trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt và sự phát triển bình thường cho con chung, Hội đồng xét xử giao con chung chưa thành niên là cháu Bùi Ánh Ng – sinh ngày: 22/12/2016 cho bà Nở có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà N không yêu cầu.

Về tài sản chung, n chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ như trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận toàn bộ ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa.

Về án phí: Nguyên đơn bà Trần Thị Nở phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ theo quy định.

Vì các ẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Nở đối với bị đơn ông Bùi Tâm.

1. Về hôn nhân: Bà Trần Thị N được ly hôn với ông Bùi T.

2. Về con chung: Bà Trần Thị N có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là cháu Bùi Ánh Ng – sinh ngày: 22/12/2016. Ông Bùi T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Nở không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3.Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Bà Trần Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu số 0007112 ngày 04/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải. Bà N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm có mặt nguyên đơn, bị đơn - quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/01/2023./.

Cỡ chữ