vanban.org

Bản án 04/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu “Ly hôn” của anh Lê Gia T

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Gia T được ly hôn với chị Ngô Thị T. Về con chung: : Có 01 cháu tên Lê Ngọc Q, sinh ngày 15/11/2017. Sau khi ly hôn, giao cho chị Trang chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tạm thời anh Tài cấp dưỡng tiền nuôi con chung là 2.000.000 đồng/tháng (hai triệu đồng), kể từ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trang-Tài"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu “Ly hôn” của anh Lê Gia T
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
lTÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHƠN TRẠCH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17/01/2023.
Về việc: “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂNhuyện NT– TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Thương.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoài Đức Huệ

2. Bà Trần Thanh Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Đình Linh Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện NT, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dânhuyện NT tham gia phiên tòa: Bà Đặng Vân Hoàng Yến – kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dânhuyện NT, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 448/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn,” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1124/2022/QĐXX.ST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 1069/2022/QĐHPT ngày 30 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lê Gia T, sinh năm 1999

Địa chỉ thường trú: xã Tân Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Địa chỉ tạm trú: xã Phước Thiền,huyện NT, tỉnh Đồng Nai

Bị đơn: Chị Ngô Thị T, sinh năm 2001.

Địa chỉ: ấp 3, xã Long Thọ,huyện NT, tỉnh Đồng Nai

(Anh Tài vắng mặt, chị Trang vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 30/08/2022, anh Lê Gia T nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dânhuyện NT, tỉnh Đồng Nai giải quyết xin được ly hôn với chị Ngô Thị T. Lý do xin ly hôn, theo anh Tài trình bày: Qua thời gian tìm hiểu, đến năm 2019 anh và chị Trang tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Cam Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 36 ngày 25/11/2019). Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau khá hạnh phúc, nhưng thời gian về sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vã thường xuyên, không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị Trang.

Về con chung: Có 01 cháu tên Lê Ngọc Q, sinh ngày 15/11/2017. Sau khi ly hôn, anh Tài đồng ý giao con chung cho chị Trang chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời anh Tài cấp dưỡng tiền nuôi con chung là 2.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là chị Ngô Thị T, trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã nhiều lần Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng chị Trang vẫn cố tình vắng mặt không lý do, nên Tòa án nhân dânhuyện NT không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa chị Trang vẫn vắng mặt nên không có lời khai.

* Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đã thực hiện đúng, còn bị đơn không thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với chị Trang để tham gia hòa giải và tại phiên tòa hôm chị Trang vẫn vắng mặt không lý do, điều đó chứng tỏ chị Trang đã tự bỏ mặc tình trạng hôn nhân của mình, không còn tha thiết với việc hàn gắn đoàn tụ. Từ đó cho thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng anh Tài, chị Trang đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng thật sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Tài, giải quyết cho anh Tài được ly hôn với chị Trang để trả tự do cả hai.

Về con chung: Có 01 cháu tên Lê Ngọc Q, sinh ngày 15/11/2017. Sau khi ly hôn, giao cho chị Trang chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tạm thời anh Tài cấp dưỡng tiền nuôi con chung là 2.000.000 đồng/tháng (hai triệu đồng).

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh Tài phải chịu án phí ly hôn, án phí cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Anh Lê Gia T xin ly hôn với chị Ngô Thị T có địa chỉ cư trú tại: ấp 3, xã Long Thọ,huyện NT, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dânhuyện NT có thẩm quyền giải quyết.

Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn chị Ngô Thị T, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ xét xử đến lần thứ hai, nhưng chị Trang vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Gia T và chị Ngô Thị T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Cam Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 36 ngày 25/11/2019 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên xác định là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, theo anh Tài trình bày vợ chồng chỉ sống hạnh phúc thời gian đầu, sau đó thì vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã nhau, cuộc sống chung không thể hòa hợp, nên không có hạnh phúc. Qua kết quả xác minh tại địa phương nơi cư trú của anh Tài và chị Trang thì được biết mâu thuẫn vợ chồng địa phương không nắm rõ do không có báo với địa phương. Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với chị Trang để tham gia hòa giải và tại phiên tòa hôm nay chị Trang vẫn vắng mặt không lý do, điều đó chứng tỏ chị Trang đã bỏ mặc tình trạng hôn nhân của mình, không còn tha thiết với việc hàn gắn đoàn tụ. Từ đó cho thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng của chị Trang, anh Tài đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng thật sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Tài, giải quyết cho anh Tài được ly hôn với chị Trang để trả tự do cả hai.

Về con chung: Có 01 cháu tên Lê Ngọc Q, sinh ngày 15/11/2017. Sau khi ly hôn, giao cho chị Trang chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tạm thời anh Tài cấp dưỡng tiền nuôi con chung là 2.000.000 đồng/tháng (hai triệu đồng).

Về tài sản chung, nợ chung: Theo anh Tài trình bày tài sản chung không có; nợ chung không có. Tuy nhiên, do chị Trang vắng mặt tại phiên tòa, không có lời khai nên không có cơ sở để xem xét giải quyết. Do vậy, cần tách ra để giải quyết bằng vụ án khác khi các bên đương sự có yêu cầu.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Anh Tài phải chịu án phí ly hôn, án phí cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Đối với phần phát biểu của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dânhuyện NT tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và ý kiến về việc giải quyết vụ án như trên. Xét thấy, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 1 Điều 227; điều 228, điều 238 Điều 266, 271, 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Điều 6; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu “Ly hôn” của anh Lê Gia T

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Gia T được ly hôn với chị Ngô Thị T.

2. Về con chung: : Có 01 cháu tên Lê Ngọc Q, sinh ngày 15/11/2017. Sau khi ly hôn, giao cho chị Trang chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tạm thời anh Tài cấp dưỡng tiền nuôi con chung là 2.000.000 đồng/tháng (hai triệu đồng), kể từ khi quyết định có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung trưởng thành, có khả năng lao động, tự nuôi sống bản thân.

Anh Lê Gia T có quyền thăm nom, chăm sóc con không ai được quyền ngăn cản. Trong trường hợp cần thiết, một trong các bên có quyền xin thay đổi vị trí nuôi con, cũng như mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Tách ra để giải quyết bằng vụ án khác khi các bên đương sự có yêu cầu.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về án phí HNGĐ-ST: Anh Lê Gia T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng tiền nuôi con chung, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sựhuyện NT, theo biên lai thu số 00008336 ngày 03/10/2022. Anh Tài phải tiếp tục nộp 300.0000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sựhuyện NT, tỉnh Đồng Nai.

5. Anh Lê Gia T và chị Ngô Thị T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ